Logo

CƠ CẤU RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ THỌ XUÂN, ĐAN PHƯỢNG, HÀ NỘI

  23/09/2019

Ths. Trần Quyết Thắng

Ths Nguyễn Đức Vượng

Phòng CĐT - Bệnh viện tâm thần Hà Nội

Tóm tắt

            Nghiên cứu 145 bệnh nhân người cao tuổi có rối loạn trầm cảm tại xã Thọ Xuân, Đan Phượng, Hà Nội từ 3-2018 đến 9-2018, chúng tôi thấy: Tỷ lệ trầm cảm ở người cao tuổi là 11,84%, tỷ lệ nữ /nam là 1,6. Bệnh nhân trầm cảm đa số ở thể nhẹ (73,1%), trầm cảm vừa chiếm 24,1%, trầm cảm nặng chiếm 2,8%. Các triệu chứng đặc trưng như mất/giảm năng lượng, giảm hoạt động có tỷ lệ cao nhất (88,97%), khí sắc trầm có tỷ lệ thấp nhất (43,45%). Các triệu chứng phổ biến thường gặp: Rối loạn giấc ngủ (94,48%), Ăn ít ngon miệng (71,72%), Giảm sút tập trung chú ý (64,83%), Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin (32,41%).Các yếu tố liên quan đến hoàn cảnh sống cô đơn: góa bụa (20%), con cháu không quan tâm (7,59%). Kinh tế không ổn định (35,17%), mâu thuẫn gia đình (13,79%), con cái không thành đạt (8,28%).

I. Đặt vấn đề.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và nhiều tác giả, trầm cảm xảy ra ở 5 -7% dân số lớn tuổi nói chung. Khoảng 45% - 70% những người tự sát có rối loạn trầm cảm và 15% số bệnh nhân trầm cảm chết do tự sát. Trầm cảm là phổ biến ở người lớn tuổi: ước tính 15% đến 19% người Mỹ từ 65 tuổi trở lên bị các triệu chứng trầm cảm. Theo Robert Kok (2005) chỉ có 12% - 15% người cao tuổi có rối loạn trầm cảm được thầy thuốc đa khoa chữa trị và khoảng 0,2% trong số họ được các thầy thuốc chuyên khoa tâm thần chăm sóc.

Mục tiêu nghiên cứu:

1. Mô tả cơ cấu rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi tại xã Thọ Xuân, Đan Phượng, Hà Nội.

2. Mô tả đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi tại xã Thọ Xuân, Đan Phượng, Hà Nội.

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.

            Nghiên cứu được tiến hành tại xã Thọ Xuân của thành phố Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu bao gồm 1225 người cao tuổi và phân tích 145 người trên 60 tuổi đang sống tại địa điểm nghiên cứu đáp ứng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán một giai đoạn trầm cảm theo ICD- 10F (1992).

            Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp điều tra cắt ngang. Phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn trực tiếp. Tất cả người bệnh có rối loạn TC đều được tiến hành nghiên cứu theo một mẫu bệnh án thống nhất.

III. Kết quả nghiên cứu.

            Rối loạn trầm cảm được phát hiện ở độ tuổi 60-69 chiếm 46,9%, giảm dần ở các nhóm tuổi cao hơn (35,17% ở nhóm tuổi 70-79; 17,93% ở nhóm tuổi > 80). Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu bệnh nhân trầm cảm trên 60 tuổi, nhận thấy nhóm tuổi từ 60 - 69 có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn cả.

            Tỷ lệ bệnh nhân nam là 38,62% và tỷ lệ bệnh nhân nữ là 61,38%. Sự khác biệt giới tính có ý nghĩa thống kê (p<0,05), phù hợp với kết quả của những nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở các lứa tuổi, nữ thường cao hơn 2 lần so với nam giới.

Tỷ lệ trầm cảm ở người cao tuổi tại xã Thọ Xuân chiếm 11,84% (145/1225). Theo Nguyễn Thị Minh Hương (2013) tỷ lệ trầm cảm người cao tuổi là 18,15% và theo Nguyễn Thị Phương Loan (2012) tỷ lệ này là 17,25%. Tỷ lệ trầm cảm thấp trong nghiên cứu của chúng tôi có thể do nghiên cứu tại một thời điểm, môi trường nông thôn, trong khi bệnh nhân trầm cảm người già ở thành phố, thị trấn thường có tỷ lệ cao hơn.

            Có 106 bệnh nhân trầm cảm ở thể nhẹ (73,1%), trầm cảm vừa chiếm 24,1%, trầm cảm nặng gặp ở 4 bệnh nhân (2,8%). Theo Phạm Văn Quý, đánh giá hiệu quả can thiệp rối loạn trầm cảm trong cộng đồng (2008), gặp số người trầm cảm nhẹ chiếm tỷ lệ là 65,2%, số người trầm cảm vừa là 34%, chỉ có 1 người bị trầm cảm nặng, không có trầm cảm có loạn thần. Nghiên cứu của Reinhard Heun, Sandra Hein (2010) về trầm cảm ở người cao tuổi, cho rằng bệnh nhân mắc các rối loạn ở mức độ nhẹ thường chỉ điều trị ngoại trú và người già thường ngại nằm viện, sợ mình là gánh nặng cho con cháu.

Bảng 1Các triệu chứng ở giai đoạn sớm

Các triệu chứng cơ thể

n

%

Cảm giác mệt mỏi, đuối sức

105

72,41

Rối loạn giấc ngủ

133

91,72

Đau đầu

76

52,41

Rối loạn ăn uống

113

77,93

Sút cân

12

8,28

Giảm hiệu suất lao động

129

88,97

Lo lắng bồn chồn

105

72,41

Buồn chán vô cớ

37

25,52

Kích thích, mất kiềm chế

68

46,90

            Rối loạn giấc ngủ chiếm tỷ lệ cao nhất (91,72%). Kèm theo là rối loạn ăn uống chiếm 77,93%. Cảm giác mệt mỏi đuối sức gặp ở 72,41% tổng số bệnh nhân nghiên cứu. Có 8,28% bệnh nhân có biểu hiện sút cân rõ. Giảm hiệu suất lao động gặp ở 88,97% bệnh nhân. Lo lắng và bồn chồn chiếm 72,41%. Trạng thái kích thích, mất kiềm chế chiếm tỷ lệ 46,9%. Nguyễn Viết Thiêm cho rằng biểu hiện lâm sàng ở giai đoạn sớm rối loạn trầm cảm người cao tuổi rất mơ hồ và diễn biến vô cùng phức tạp, rất khó khai thác được chính xác thời điểm khởi phát các triệu chứng. Tuy nhiên ở giai đoạn đầu các biểu hiện đó vẫn có thể nhận biết được nếu có sự quan tâm thoả đáng, nhất là với các bác sĩ đa khoa ở cộng đồng.

            Có 94 bệnh nhân (64,83%) có các triệu chứng giảm tập trung chú ý, 32,41% bệnh nhân có triệu chứng giảm tính tự trọng, tự tin. 20 bệnh nhân (13,79%) có ý tưởng bị tội, không xứng đáng. Các tác giả khác cũng cho rằng khả năng tập trung chú ý kém là triệu chứng bệnh nhân hay than phiền nhất.

Bảng 2. Một số triệu chứng cơ thể

Triệu chứng

Số bệnh nhân (n=145)

Tỷ lệ%

Đau nhiều khớp

65

44,83

Đau tức ngực

51

35,17

Cảm giác hụt hơi, khó thở

38

26,21

Ra mồ hôi

35

24,14

Hồi hộp

99

68,28

Tê bì

45

31,03

Rối loạn tiêu hóa

108

74,48

            Các rối loạn tiêu hóa liên quan đến trầm cảm thường gặp nhất (74,48%), nổi bật hơn cả là cảm giác nóng rát bụng, đau âm ỉ vùng bụng, cảm giác đầy hơi chậm tiêu, táo bón,... Có 99 bệnh nhân (68,28%) bệnh nhân có triệu chứng hồi hộp; 51 bệnh nhân (35,17%) có triệu chứng tức ngực.

Bảng 3. Một số yếu tố gia đình liên quan đến trầm cảm

Các yếu tố stress

Tổng số (n=145)

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

Góa bụa

29

20,00

Con cháu bỏ rơi

11

7,59

Kinh tế

51

35,17

Con cái không thành đạt

12

8,28

Bệnh tật

38

26,21

Mâu thuẫn gia đình

20

13,79

Số liệu kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với mô tả của nhiều tác giả (Cairney J, Krause N), cho rằng các nhân tố xã hội (thay đổi địa vị xã hội, cách ly với các hoạt động nghề nghiệp, suy giảm về thu nhập và mức sống, xung đột trong công việc…) được xem như là những nhân tố có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh nguyên của các rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi. Theo Nguyễn Thị Phương Loan (2012) thì mâu thuẫn trong gia đình chiếm tới 37,8%. Những mâu thuẫn nội bộ trong gia đình kéo dài, bất hòa vợ chồng, con cái, người thân gia đình ốm, mất, khó khăn về kinh tế… đều được coi là những nhân tố dẫn đến trầm cảm ở người già.

Bảng 4. Một số bệnh thể ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Bệnh cơ thể

Tổng số (n=145)

Số bệnh nhân

%

Tim mạch (THA, tức ngực, ...)

38

26,21

Thần kinh (đau nhức, run, ...)

46

31,72

Các bệnh tiêu hoá

60

41,38

Các bệnh về khớp

29

20,00

            Có sự liên quan chặt chẽ giữa bệnh cơ thể và trầm cảm. Bệnh cơ thể có thể là nguyên nhân trực tiếp tác động trực tiếp nên não bộ, làm rối loạn các chức năng sinh học của não và làm tăng nguy cơ của người già mắc các biểu hiện của trầm cảm. Khi có bệnh cơ thể, nhất là bệnh mạn tính và gây nên các biến chứng hoặc ảnh hưởng tới sức khỏe người bệnh. Đây chính là một stress đối với người bệnh, nó có thể là nguyên nhân hoặc yếu tố thúc đẩy và làm cho sự tiến triển của bệnh nặng nề hơn. Về bệnh học tâm thần có thể bệnh cơ thể kèm theo sẽ làm thúc đẩy bệnh trầm cảm. Tuổi cao và bệnh lý cơ thể dường như đóng vai trò quan trọng trong sự phát sinh trầm cảm ở người già.

IV. Kết luận

            Tỷ lệ trầm cảm ở người cao tuổi là 11,84%. Số bệnh nhân nữ chiếm 61,31% tổng số đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ nữ /nam là 1,6. Độ tuổi 60-69 có tỷ lệ trầm cảm cao nhất (47,02%).

            Bệnh nhân trầm cảm đa số ở thể nhẹ (73,1%), trầm cảm vừa chiếm 24,1%, trầm cảm nặng gặp ở 2,8% tổng sô bệnh nhân, trong đó không có bệnh nhân nào có triệu chứng loạn thần.

            Các triệu chứng đặc trưng như mất/giảm năng lượng, giảm hoạt động có tỷ lệ cao nhất (88,97%), khí sắc trầm có tỷ lệ thấp nhất (43,45%). Các triệu chứng phổ biến thường gặp: Rối loạn giấc ngủ (94,48%), Ăn ít ngon miệng (71,72%), Giảm sút tập trung chú ý (64,83%), Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin (32,41%).

            Các yếu tố liên quan đến hoàn cảnh sống cô đơn: góa bụa (20%), con cháu không quan tâm (7,59%). Kinh tế không ổn định (35,17%), mâu thuẫn gia đình (13,79%), con cái không thành đạt (8,28%).

            Các bệnh cơ thể thường gặp nhất là các bệnh về tiêu hóa (41,38%), các bệnh thần kinh (31,72%), bệnh tim mạch (26,21%) và các biểu hiện bệnh khớp (20%).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thị Minh Hươg (2013) “Các yếu tố liên quan đến phát sinh trầm cảm ở người cao tuổi”, Luận văn chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội.

2. Nguyễn Thị Phương Loan (2012);Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng trầm cảm có loạn thần ở người cao tuổi, Luận văn chuyên khoa cấp 2, trường Đại học Y Hà Nội.

3. Phạm Văn Quý (2008), “Đánh giá hiệu quả can thiệp rối loạn trầm cảm trong cộng đồng”, Luận văn CKII, Đại học y Hà Nội,

4. American Psychiatric Association (2011);Practice Guideline for the Treatment of Patients with Major Depressive”, JAMA, pp 3095-3105

5. Chong M. Y. (2011), “Community study of depression in old age in Taiwan: Prevalence, life events and socio-demographic correlates”, The British Journal of Psychiatry, 178, (1), pp. 29-35.

6. Kohn R, Epstein-Lubow (2006), “Course and outcomes of depression in the elderly”, Current Psychiatry Report, American Association for Geriatric, Psychiatry Feb, 8(1), pp 34-40.

7. Robert C, Baldwin A, Bas et al (2002);Depressive disorder, Psychiatry

in the Elderly, Oxford University Press, third edition, pp 628-637.

 

Bình luận

Tin tức mới