Logo

Động kinh

  07/11/2018

1. KHÁI NIỆM CHUNG

Động kinh là bệnh phổ biến ở các nước trên thế giới, tỉ lệ mắc bệnh giao động trong khoảng 0,5% dân số. Cả 2 giới và các lứa tuổi từ sơ sinh đến người già đều có thể có các cơn động kinh. Ở trẻ em động kinh có tầm quan trọng đặc biệt do tỉ lệ mắc bệnh cao trong đó loại động kinh tự phát lành tính chiếm khoảng 50%, loại này đáp ứng tốt với điều trị.

1.1. Định nghĩa:

Theo tổ chức Y tế thế giới: “Động kinh là một bệnh mạn tính, có nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc trưng là sự lặp đi lặp lại của các cơn do có sự phóng điện quá mức của các tế bào thần kinh não bộ, dù cho các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng kết hợp có thể khác nhau”.

1.2. Tần số, tuổi, giới:

Là bệnh phổ biến trên thế giới với tỷ lệ từ 1 - 5/1000 dân. Ở Việt Nam gặp ở các lứa tuổi nam và nữ tỷ lệ khoảng 0,33% dân số.

2. NGUYÊN NHÂN CỦA ĐỘNG KINH:

Dựa theo nguyên nhân: các cơn động kinh có thể chia làm 2 nhóm

2.1. Động kinh nguyên phát: là các cơn động kinh, với các trang thiết bị hiện có, không thể tìm thấy nguyên nhân hoặc yếu tố nguy cơ (thuộc nhóm động kinh nguyên phát hoặc căn nguyên ẩn).

2.2. Động kinh thứ phát (cơn động kinh triệu chứng):

- Là các cơn liên quan chặt chẽ đến các rối loạn chuyển hoá, ngộ độc, tổn thương của hệ thần kinh hoặc một bệnh toàn thân (do chấn thương sọ não, u não, bệnh mạch máu não, di chứng viêm não, teo não, nhiễm khuẩn nội sọ, sán não; do bệnh cơ thể: thiếu máu, tăng hoặc giảm đường huyết, sốt cao; do nhiễm độc: rượu, ma tuý, thuốc ATK).

Nguyên nhân gây động kinh theo lứa tuổi:

Sơ sinh đến 2 tuần tuổi

- Ngạt sau đẻ

- Chấn thương sau đẻ

- Nhiễm khuẩn thần kinh trung ương

- Di tật não

- Tụmáu dưới màng cứng

- Hạ calci máu

- Hạ đường máu

Từ 2 tuần tuổi đến 4 tháng tuổi

- Nhiễm khuẩn

 - Hạ calcimáu

- Dị tật não

Từ 4 tháng đến 2 tuổi

- Co giật do sốt

- Nhiễm khuẩn thần kinh trung ương

- Nguyên nhân mạch máu

- Rối loạn chuyển hoá bẩm sinh

- Hội chứng u thần kinh-da

Từ 2 tuổi đến 10 tuổi

- Động kinh kịch phát vùng trung tâm thái dương - Động kinh di chứng của bệnh lý sơ sinh

- Động kinh sau chấn thương

- Rối loạn chuyển hoá bẩm sinh

- Hội chứng u thần kinh - da

- Nhiễm khuẩn thần kinh trung ương

Từ 10 tuổi đến 20 tuổi

- Động kinh sau chấn thương

- Động kinh di chứng của bệnh lý sơ sinh

- Nhiễm khuẩn thần kinh trung ương

- Dị dạng mạch máu

Từ 20 đến 40 tuổi

- Động kinh sau chấn thương

- Động kinh do u não

- Động kinh do rượu

- Động kinh di chứng của bệnh lý sơ sinh

- Dị dạng mạch máu

Từ 40 tuổi đến 60 tuổi

- Động kinh do u não

- Động kinh do rượu

          - Động kinh sau chấn thương

- Động kinh do dị dạng mạch máu

Trên 60 tuổi

- Động kinh do dị dạng mạch máu

- Động kinh do u não tiên phát và di căn

- Động kinh kết hợp với sa sút trí tuệ và thoái hoá

3. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG:

Lâm sàng bệnh động kinh rất đa dạng, nét độc đáo là biểu hiện có tính kịch phát đột ngột, các triệu chứng tái diễn, định hình, nếu không được điều trị đúng, hợp lý bệnh sẽ dần dần nặng hơn.

A. Các cơn động kinh toàn bộ:

1.Cơn vắng ý thức

1.1. Cơn vắng ý thức điển hình: Là những cơn ngắn khởi đầu và kết thúc đột ngột với rối loạn ý thức, có hoặc không kèm theo các triệu chứng khác, hay gặp ở trẻ nhỏ. Cơn kéo dài từ 2,5 giây đến 1 phút, thường khoảng 5 đến 10 giây. Hình ảnh điện não kinh điển ghi trong cơn là những hoạt động kịch phát nhọnsóng, khởi phát đột ngột, đồng bộ, đối xứng cả hai bên bán cầu với tần số 3 chu kỳ/giây. Hình ảnh điện não đồ ngoài cơn thường gặp là kịch phát nhọn-sóng 3 chu kỳ/giây trên điện nào đồ bình thường, đôi khi có thể có sóng delta thành nhịp. Cơn vắng ý thức điển hình được phân ra các loại như sau:

* Cơn vắng ý thức đơn thuần: Đặc điểm của cơn là đột ngột mất ý thức trong một vài giây. Bệnh nhân đột ngột ngây người ra, mắt nhìn lơ đãng hoặc ngược lên trên, ngừng đột ngột các hoạt động đang làm, ví dụ: Ngừng đi, ngừng nói, ngừng viết, đánh rơi bút, rơi bát đũa...Cơn kết thúc đột ngột, bệnh nhân lại tiếp tục các hoạt động đã làm trước cơn như không có gì xảy ra, hoàn toàn không biết gì về cơn của mình. Bệnh nhân thường mất hoàn toàn nhận thức, phản ứng và trí nhớ trong cơn vắng, tuy nhiên một vài trường hợp có thể bệnh nhi mơ hồ nhớ các sự kiện vừa xảy ra, cơn vắng ý thức đơn thuần chiếm khoảng 10%. .

Cơn vắng ý thức kèm theo giật cơ: Cơn vắng ý thức kèm theo giật cơ nhẹ ở mí mắt, góc miệng, môi trên. Co giật thành nhịp thường tần số 3 chu kỳ/giây

Cơn vắng ý thức kèm theo mất trương lực: Bệnh nhân có cơn vắng ý thức kèm theo mất trương lực tư thế, bệnh nhân đột ngột mất trương lực các cơ vùng đầu, cổ tạo nên hiện tượng gập đâu, đôi khi gập cả thân người.

Cơn vắng ý thức kèm theo tăng trương lực cơ: Tăng trương lực cơ thể ở cả cơ gấp và cơ duỗi, đối xứng hoặc không đối xứng hai bên, có thể gây ra đảo ngược nhãn cầu hoặc kéo theo cảngửa đầu và ưỡn ra phía sau.

Cơn vắng ý thức kèm động tác tự động: Hay gặp ở các cơn vắng ý thức kéo dài trên 30 giây. Bệnh nhân thường mất ý thức kèm theo một số động tác tự động như chép miệng, nuốt nước bọt, gãi hoặc nói một số lời tự động...

Cơn vắng ý thức kèm các dấu hiệu thực vật: Bệnh nhân có mất ý thức kèm theo giãn đồng tử, rối loạn nhịp thở, nhịp tim nhanh, đái dầm, tăng tiết nước bọt, rối loạn vận mạch.

Cơn vắng ý thức phối hợp: Bệnh nhân có cơn vắng ý thức phối hợp với một số dạng đã mô tả trên.

1.2. Cơn vắng ý thức không điển hình: triệu chứng lâm sàng thường không đặc trưng. Dạng cơn này gặp nhiều ở trẻ chậm phát triển trí tuệ, khởi phát và kết thúc cơn diễn ra từ từ, thời gian cơn dài hơn loại cơn vắng ý thức điển hình. Điện não ghi trong cơn là những loạt kịch phát nhọn-sóng tần số chậm hơn, thường gặp là 1,5 chu kỳ/giây, các sóng nhọn có độ dài bước sóng dài hơn và đỉnh tù hơn. Điện não đồ ghi ngoài cơn: những loại hoạt động kịch phát nhọn-sóng tần số chậm trên điện não nền rải rác ít sóng chậm, đôi khi có thể có một số sóng nhọn hay nhiều Ổ sóng nhọn.

2. Cơn giật cơ: Biểu hiện là giật các cơ, chủ yếu là các cơ lớn và các cơ gấp 2 bên cơ thể, có thể thành nhịp hoặc không thành nhịp, giật cơmạnh hoặc nhẹ, cơn thường xảy ra ngắn, đôi khi không mất ý thức.

3. Cơn co giật: Các cơn co giật thường xuất hiện chủ yếu ở trẻ nhỏ, đôi khi trong bệnh cảnh sốt cao co giật. Các cơn giật này thường xuất hiện dưới dạng các động tác giật cả hai bên đôi khi không đối xứng. Tần số các cơn giật này giảm dần, thời gian giật không cố định, kèm theo có biến đổi ý thức, ý thức mùmờ sau cơn.

4. Cơn tăng trương lực: Biểu hiện trên lâm sàng bằng co cứng liên tục các cơ hai bên cơ thể, khởi đầu có thể đột ngột hoặc từ từ. Cơn kéo dài từ 10 giây cho đến 1 phút, thường kết hợp với rối loạn ý thức và rối loạn thần kinh thực vật. Các cơ hay bị xâm phạm là các cơ trục hai bên thân thể, cơ cổ, cơmặt, cơ nhai, các cơ ở tay, chân.

5. Cơn tăng trương lực - co giật hay cơn co cứng - co giật (ĐK cơn lớn):

Động kinh cơn lớn có thể xảy ra đột ngột ở bất kỳ chỗ nào, thời gian nào, hoàn cảnh nào và kèm theo mất ý thức hoàn toàn, diễn biến có thể chia làm 3 giai đoạn:

-Giai đoạn co cứng: dài 10 đến 20 giây. Toàn thân co cứng lúc đầu ở các cơ gấp, sau đến cơ duỗi. Mất ý thức và ngừng hộ hấp ngay từ đầu, ngã ra bất tỉnh ở bất kỳ tư thế nào trước khi có cơn (có thể gây thương tích), mặt tím tái, tăng tiết dờm dãi, có thể tiểu tiện ra quần, co cứng giảm dần để chuyển sang co giật.

-Giai đoạn co giật: Tiếp sau co cứng cơ, giai đoạn này dài khoảng 30 giây có thể đến hơn 1 phút, các cơ bắt đầu giật mạnh, có nhịp, thường bắt đầu các cơ ở chi, ở cổ, ở mặt, răng cắn chặt rồi giật rung các cơ toàn thân, cường độ lúc đầu mạnh và nhanh sau đó giảm và thưa dần, mặt tím ngắt, nhãn cầu đảo ngược, sùi bọt mép, đại tiểu tiện không tự chủ, lưỡi thập thò có khi cắn vào lưỡi.

- Giai đoạn sau cơn: dài vài phút, bệnh nhân bất động, các cơ duỗi, phản xạ gân xương mất hẳn hoặc giảm nặng, bệnh nhân vẫn mất ý thức hoàn toàn, đồng tử giãn, sau đó bệnh nhân hô hấp trở lại, thở bù mạnh và nhanh, thở dốc, thở phì phì, bọt mép có thể lẫn ít máu do cắn phải lưỡi, dần dần vài phút sau sắc mặt hồng hào trở lại, ý thức u ám rồi tỉnh hẳn. Bệnh nhân không nhớ chuyện gì đã xảy ra, mệt mỏi, một số bệnh nhân có thể phàn nàn đau đầu, đau toàn thân và có thể ngủ thiếp đi. Điện não đồ hoạt động kịch phát đa nhọn lúc đầu biên độ thấp sau tăng dần rồi chậm dần nhường chỗ cho các sóng chậm tồn tại nhiều ngày.

6. Cơn mất trương lực: biểu hiện bằng giảm hoặc mất trương lực tư thế đột ngột của các cơ gây sụp đổ toàn thân, kéo dài một vài giây, đôi khi vài phút, trong cơn mất ý thức. Cơn mất trương lực có thể làm gục đầu về phía trước, có thể làm bệnh nhân ngã xuống đất, người mềm nhẽo, thường hay gặp ở trẻ em. 

B. Các cơn động kinh cục bộ:

1. Các cơn động kinh cục bộ đơn giản: đặc điểm là không xâm phạm ý thức. Có nhiều loại cơn khác nhau tuỳ thuộc chức năng các phần não bị tổn thương:

1.1. Các cơn động kinh cục bộ với các triệu chứng vận động:

- Tăng trương lực và/ hoặc co giật: trong cơn, các cơ trở nên co cứng (tăng trương lực) hoặc/ và giật thành nhịp khu trú tại một nhóm cơ, một đoạn chi hoặc một phần cơ thể. Trong các cơn động kinh cục bộ, chỉ các cơn theo hành trình BravaisJackson là có thể định khu được tương đối chính xác vị trí của Ổ động kinh. Các phóng lực động kinh xuất phát từ hồi trán lên và lan theo một hương nhất định. Trên lâm sàng thấy xuất hiện tăng trương lực, sau đó giật một phần của chi (ngón tay cái, ngón chân cái) hoặc mặt bên đối diện với ổ động kinh sau đó dần lan ra các vùng khác của nửa người.

- Cơn loạn trương lực (cơn trương lực tư thế): trong cơn các cơết bị co cứng và ít bị cố định hơn, các cơ có xu hướng văn và biến đổi theo thời gian. Khi loạn trương lực là dấu hiệu lâm càng nổi trội, cần tìm ổ động kinh ở phía trong thuỳ trán tiên vận động.

- Cơn quay: loại cơn này thường có nguồn gốc ở thuỳ đỉnh nhưng không có giá trị định khu đặc hiệu. Trong cơn bệnh nhân xoay xung quanh trục cơ thể, có thể quay mặt nhanh kèm quay đầu.

- Hiện tượng vận động âm tính: gần đây cũng được mô tả như một triệu chứng đặc biệt có thể gặp trong động kinh cục bộ. Thay vì các biểu hiện tăng trương lực, giật cơ, ở các bệnh nhân này lại biểu hiện bằng các dấu hiệu thiếu sót bó tháp hoặc giảm trương lực cơ trong cơn. Khi trục thân thể bị tác động, bệnh nhân có thể bị ngã đột ngột.

- Cơn rối loạn phát âm: bệnh nhân đột ngột ngừng nói. Có thể thấy khi ổ động kinh nằm ở hồi trán 3 bên bán cầu ưu thế hoặc diện vận động phụ.

1.2. Các cơn động kinh cục bộ với các triệu chứng cảm giác và giác quan:

- Cơn loạn cảm giác thân thể: xuất hiện dưới dạng kiến bò, kim châm, tê cóng, thậm trí giảm cảm giác, cảm giác như điện giật, đau...Nói chung các triệu chứng này không có giá trị định khu, trừ khu trú ở một phần hoặc một nửa cơ thể (ổ động kinh nằm tại vùng cảm giác sơ cấp: vùng trung tâm sau rãnh Ronaldo).

- Các cơn với triệu chứng thị giác: Triệu chứng rất đa dạng, có thể xuất hiện bên đối diện với ổ động kinh nhưng cũng có thể ở hai bên. Hay gặp là ảo thị sơ đẳng dương tính (ánh sáng loá, nhấp nháy, di động từng đợt hoặc liên tục), ảo thị âm tính (bán manh một phần tử, bán manh nửa thị trường, thậm trí có thể mù vỏ não).

- Các cơn với triệu chứng thính giác: thường xuất hiện bên đối diện với ổ động kinh, nhưng cũng có thể ở cả hai bên. Các triệu chứng có thể gặp là ảo tưởng (âm thanh biến dạng, xa xăm, cảm giác có tiếng vang), các triệu chứng dương tính khác như: ù tai, tiếng huýt sáo, tiếng nhạc, tiếng người...

- Các cơn với triệu chứng khứu giác: thường gặp các ảo giác tiếp nhận. Người bệnh đột nhiên ngửi thấy một mùi lạ (thường là khó chịu), đôi khi cũng có mùi dễ chịu (mùi hoa) hoặc không xác định được mùi gì.

- Các cơn với triệu chứng vị giác: có triệu chứng là các ảo giác vị giác hoặc hoang tưởng vị giác (bệnh nhân cảm thấy vị đắng, chua, mặn...) tạo một cảm giác khó chịu và sau cơn có thể có hiện tượng loạn vị giác hoặc mất vị giác.

- Các cơn với triệu chứng tiền đình: trung tâm chi phối tiền đình nằm ở nhiều khu vực khác nhau trên vỏ não, do vậy rất khó có thể định khu cụ thể ổ động kinh mỗi khi có các triệu chứng trên lâm sàng. Dấu hiệu người bệnh phàn nàn trước khi có cơn động kinh thường là “chóng mặt”, “quay cuồng”, “lảo đảo”.

1.3. Các cơn động kinh cục bộ với các triệu chứng thần kinh thực vật:

Triệu chứng các cơn này đa dạng: rét run, sởn gai ốc, cơn “bốc hoả” nóng bừng mặt, vã mồ hôi, giãn đồng tử, hồi hộp đánh trống ngực, nhịp tim chậm hoặc nhanh, xanh tái, ho, các cảm giác khó chịu ở đường tiêu hoá, sinh dục...

1.4. Các cơn động kinh cục bộ với triệu chứng tâm thần:

Triệu chứng rối loạn tâm thần trong động kinh cục bộ biểu hiện dưới dạng rối loạn chọn lọc các chức năng cao cấp của vỏ não trong khi không có biến đổi ý thức. Có thể bao gồm:

- Thất ngôn nguồn gốc từ diện ngôn ngữ bán cầu ưu thế

- Rối loạn trí nhớ và nhận thức: cảm giác “đã sống”, “đã thấy”, “chưa bao giờ thấy” hoặc “không bao giờ sống”. Cảm giác quen hoặc xa lạ, “trạng thái mộng mị” trong đó người bệnh cảm nhận thực tại xung quanh như trong giấc mộng, hiện tượng ý tưởng ép buộc, tức là ý tưởng ký sinh áp đặt lên người bệnh ngay lúc bắt đầu cơn.

- Các biểu hiện bản năng: cảm xúc khó chịu, sợ hãi, lo âu, cảm giác rùng rợn (cơn thái dương vành) đôi khi cảm giác dễ chịu, khát đói.

- Các ảo giác tâm thần giác quan như: mất trị giác thực tại hay gặp ảo giác thị giác (các vật biến dạng, to ra, nhỏ đi...), | ảo thị (nhìn một cảnh không có thật), ảo thính (nghe nhạc, lời nói), ảo khứu, ảo vị giác, hoặc thân thể.

2. Các cơn động kinh cục bộ phức tạp

Đặc điểm làmất ý thức ngay từ đầu hoặc trong cơn, quên sau cơn. Nhóm này bao gồm các động tác tự động, nặng hơn là các hành vi vận động phức tạp xuất hiện dưới ảnh hưởng của cảm xúc, tình trạng tâm lý...và biến đổi ý thức. Các cơn cục bộ phức tạp thường kèm động tác tự động: nhai, nuốt, liếm mép...xoa vặn bàn tay, gãi, cài cúc áo, lục túi quần, hoặc nói những từ tượng thanh, kêu, nói một đoạn câu...có bệnh nhân đi lang thang không mục đích.

4. CHẨN ĐOÁN:

4.1. Chẩn đoán xác định:

- Cơn động kinh: dễ chẩn đoán nếu thầy thuốc được chứng kiến cơn. Thường phải dựa vào sự mô tả chi tiết từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc cơn do gia đình cung cấp vì bệnh nhân thường đến khám ngoài cơn. Cần bám sát đặc điểm nêu trong định nghĩa cơn động kinh, ghi điện não để loại trừ cơn động kinh.

Chú ý: cơn động kinh chỉ là một triệu chứng, bị một cơn động kinh không có nghĩa là mắc bệnh động kinh.

- Hội chứng và bệnh động kinh: cần thực hiện các bước sau:

+Xác định đúng cơn động kinh và loại cơn

+ Tuổi bắt đầu xuất hiện con (loại cơn và nguyên nhân thường liên quan với tuổi)

+ Các đặc điểm của bản ghi điện não ngoài cơn và trong cơn nếu có

+ Hỏi bệnh tỉ mỉ tìm nguyên nhân kết hợp khám và xét nghiệm cận lâm sàng nhất là chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ...

+ Đem so sánh các dữ liệu thu được với các bảng phân loại hội chứng và bệnh động kinh để xếp vào một loại bệnh tương ứng.

4.2. Chẩn đoán phân biệt:

- Cơn rối loạn phân ly (hysteria): là một bệnh do nguyên nhân tâm lý, cơn thường xảy ra chỗ đông người, không định hình, động tác hỗn độn không thành nhịp như cơn giật. Thời gian lên cơn dài, khám thần kinh bình thường.

- Cơn ngất: cơn thường xảy ra khi đứng do giảm liều lượng máu não. Có các triệu chứng tái mặt, buồn nôn, vã mồ hôi, nếu bệnh nhân ngồi xuống có thể tránh được cơn hoặc chỉ ngất thoáng qua.

- Cơn loạn nhịp tim chậm: cơn kéo dài có thể dẫn đến mất ý thức, giật, tím tái, mất phản xạ đồng tử và có dấu hiệu Babìnski.

- Cơn migraine (Migraine): trong cơn, cảm giác hoặc vận động nửa người xuất hiện động kinh cục bộ.

- Cơn hạ đường huyết: Cơn thường xảy ra lúc đói. Đường huyết hạ nhanh phối hợp với các triệu chứng tim đập nhanh, vã mồ hôi.

- Cơn đột quỵ do thiếu máu não cục bộ thoảng qua: Xảy ra đột ngột liệt nửa người hoặc thất ngôn hoặc mù 1 mắt, khỏi trong ít phút đến 24 giờ.

5. ĐIỀU TRỊ:

5.1. Nguyên tắc điều trị cơn động kinh:

- Chỉ điều trị khi đã xác định chắc chắn loại cơn động kinh và hội chứng

- Nếu chỉ có con trên điện não (dưới cơn lâm sàng) thì không chẩn đoán động kinh và không điều trị

- Chọn các loại thuốc đặc trị cho từng loại cơn theo thứ tự ưu tiên. Bao giờ cũng bắt đầu bằng liệu trình đơn trị liệu. Liều thuốc tăng dần đến khi đạt đến liều hữu hiệu (hết cơn co giật hoặc cơn co giật thưa dần), sau đó duy trì liều đó hàng ngày không bỏ thuốc ngày nào tính từ thời điểm bắt đầu cắt cơn cuối cùng.

- Chọn thuốc phù hợp với lứa tuổi, thể trạng cơ thể.

- Khi cần kết hợp 2 loại thuốc kháng động kinh, không dùng loại làm tăng nồng độ độc tính của nhau trong máu như gardenan+deparkin, gardenan + primidon...

- Nếu động kinh có kèm theo loạn thần phải kết hợp thuốc chống loạn thần.

- Không ngừng thuốc và thay đổi thuốc đột ngột.

- Thời gian điều trị thuốc kháng động kinh ít nhất 2 năm nếu không có cơn lâm sàng và ĐNĐ bình thường. Kiêng các chất kích thích (rượu, bia, cà phê), tránh gần nước, lửa hoặc trèo cao...

5.2. Các loại thuốc thường dùng ở cộng đồng:

+Carbamazapin (tegretol): trẻ em: 10 -30 mg/kg; người lớn: 10 - 12 mg/kg (chỉ định ĐK cục bộ đơn giản hoặc phức tạp). Tác dụng phụ chủ yếu đó là các tổn thương da, nổi mẩn, mày đay vào ngày thứ 8 - 10 kể từ khi dùng thuốc.

+ Barbituric (Phenobarbital, Gardenal): hàm lượng: viên 10mg, 100mg; ống 200mg tiêm bắp; liều trẻ em: 3-4mg/kg; người lớn: 2-3mg/kg (chỉ định ĐK toàn thể, cơn cục bộ). Có một số tác dụng phụ như: gây tình trạng chậm chạp, tác dụng an thần, trẻ nhỏ có thể gây ra trạng thái kích động, còi xương...

+ Hydantoines (Phenytoin (PHT): hàm lượng 30mg và 100mg; liều trẻ em 5 - 7 mg/kg; người lớn: 3 - 5 mg/kg (chỉ định ĐK cục bộ và toàn thể của bất kỳ hội chứng nào). Tác dụng không mong muốn như phản ứng dị ứng khi mới dùng, nếu dùng lâu có thể gây phì đại lợi, tăng tiết tuyến bã...gặp ở 30 - 60% các trường hợp dùng thuốc này.

+ Muối Valproat (Deparkin): trẻ em: 30 mg/kg; người lớn: 20mg/kg (chỉ định cơn ĐK toàn thể, ĐK cục bộ).

5.3. Chế độ sinh hoạt của bệnh nhân động kinh:

Thức ngủ đúng giờ để huấn luyện bộ não hoạt động nề nếp. Tránh các công việc phải làm trên cao, dưới nước, gần lửa, không lái tầu xe đề phòng cơn lên bất ngờ gây tai nạn. Tránh làm việc ngoài nắng chói gây kích thích thị giác và mất mồ hôi làm mất nước điện giải. Tránh nhịn đói, bị hạ đường huyết, tuyệt đối kiêng rượu, các chất có độ cồn cao.

- Khi nào thì dừng thuốc: Đã dùng thuốc cắt được cơn (không có cơn ĐK trên lâm sàng, làm điện não đồ không có sóng bệnh lý của động kinh) 2,5 - 5 năm kể từ cơn cuối cùng. Không ngừng thuốc đột ngột mà giảm dần liều, mỗi quý giảm 1/4 liều dùng ngày rồi ngừng hẳn nếu không tái phát.

6. PHÒNG BỆNH:

6.1. Cấp 1:

- Ngăn ngừa, loại trừ các nguyên nhân gây bệnh. Tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, giải thích một cách hợp lý về bệnh tật. Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn não, các chấn thương, phòng ngừa các bệnh cơ thể khác có thể gây động kinh.

6.2. Cấp 2:

- Phát hiện sớm và điều trị tích cực, hạn chế sự tiến triển xấu. Ở các phòng khám, trạm y tế cần phát hiện bệnh kịp thời. Bệnh được phát hiện kịp thời phải điều trị theo tuyến chuyên khoa nội trú hoặc ngoại trú. Hướng dẫn người bệnh phòng ngừa những tai nạn có thể xảy ra trong cơn động kinh.

6.3. Cấp 3:

- Phục hồi chức năng cho người bệnh động kinh bằng hình thức:

+ Đưa người bệnh vào các bệnh viện điều trị dài hạn, áp dụng các liệu pháp lao động, PHCN.

Bình luận

Tin tức mới