Logo

Khảo sát rối loạn tăng động giảm chú ý ở HS tiểu học & THCS tại Hà Nội

  08/11/2016

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả thực trạng rối loạn tăng động, giảm chú ý ở học sinh một số trường học trên địa bàn Hà Nội và nhận xét một số yếu tố liên quan Phương pháp: Điều tra cắt ngang và mô tả từng trường hợpKết quả: Tỷ lệ tăng động, giảm chú ý chung là 6,37%, cao nhất trẻ 6 tuổi: 8,16%, thấp nhất trẻ 14 tuổi: 2,12%. Một số yếu tố liên quan đến ADHD trong quá trình mang thai và sinh đẻ: 10,7% trẻ sinh thiếu tháng; 8,96% trẻ sinh mổ; 2,99% mẹ nghén nặng; 2,74% trẻ phải can thiệp khi sinh; 2,24% trẻ ngạt khi sinh; 1,24% mẹ có vấn đề tâm lý; 1,74% mẹ uống rượu; 0,25% mẹ hút thuốc lá khi mang thai. Một số yếu tố khác: quan hệ giữa cha mẹ và trẻ; cuộc sống gia đình; không thống nhất trong giáo dục trẻ; môi trường sống .

 

SUMMARY

Objective: Description Attention deficit hyperactivity disorder in some schools in Hanoi and some factors .. Methods: cross-sectional survey and  analysis of the case. Results: Percentage of ADHD is generally 6.37%, the highest in 14-year-old child: 8.16%, the lowest in 14-year-old child: 2.12%. ADHD is related to some factors during pregnancy and childbirth: 10.7% children born prematurely; 8.96%  Birth by caesarean section; 2.99% morning sickness in pregnancy; 2.24% asphyxiated infants at birth; 1.24% maternal psychological problems; 1.74% mother drinking alcohol during pregnancy; 0.25% smoking during pregnancy. A other factors: the relationship between parents and children; family life; inconsistency in the education of children; environment.. .

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước với các quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa… mô hình bệnh lý tâm lý, tâm thần cũng có nhiều thay đổi. Đặc biệt có sự gia tăng của các rối loạn tâm lý, tâm thần ở trẻ em & vị thành niên như: rối loạn tự kỷ, tăng động giảm chú ý, rối loạn cảm xúc hành vi, các rối loạn liên quan đến nghiện chất…Theo Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD.10), rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) là nhóm các rối loạn có đặc trưng: khởi phát sớm, sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, khó kiểm soát với thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc và những đặc điểm hành vi trên lan tỏa trong một số lớn hoàn cảnh và kéo dài với thời gian. Cho đến nay phần lớn trẻ mắc rối loạn tăng động giảm chú ý không được công nhận là đang bị bệnh.

Khảo sát đánh giá đúng thực trạng chứng rối loạn tăng động giảm chú ý là một bài toán lớn và khó, đòi hỏi phải vận dụng các phương pháp khoa học cũng như các kỹ thuật chuyên ngành. Trên cơ sở kết quả khảo sát sẽ đề xuất với các cấp chính quyền hoạch định kế hoạch can thiệp, dự phòng, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho học sinh Thủ đô, cũng như xây dựng kế hoạch của chuyên khoa đầu ngành về bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ tâm thần trẻ em trong giai đoạn hiện nay. Đề tài được tiến hành với hai mục tiêu:

1- Mô tả thực trạng rối loạn tăng động, giảm chú ý ở học sinh một số trường học trên địa bàn Hà Nội.

2- Nhận xét một số yếu tố liên quan và biểu hiện lâm sàng của rối loạn tăng động, giảm chú ý trên đối tượng nghiên cứu. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

1.1. Đối tượng điều tra: bao gồm 6.308 trong tổng số 6.320 học sinh của 4 trường tiểu học và 4 trường THCS trong thời gian từ tháng 7-12/2014.

2. Đối tượng phân tích: bao gồm 402 trẻ được chẩn đoán xác định ADHD sau khi điều tra sàng lọc.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Thiết kế nghiên cứu:

- Điều tra cắt ngang.

- Nghiên cứu mô tả từng trường hợp.

2.2. Các biến số và chỉ số nghiên cứu.

Các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

- Thực trạng ADHD ở học sinh một số trường học trên địa bàn Hà Nội: xác định tỷ lệ ADHD chung trên đối tượng nghiên cứuxác định tỷ lệ ADHD theo tuổi, giới, trường, học lực...

- Các chỉ số về yếu tố liên quan

- Một số biểu hiện lâm sàng của ADHD

2.3. Công cụ chẩn đoán và đánh giá.

- Thang SDQ: để sàng lọc tất cả học sinh của 8 trường.

- Test Raven: đánh giá chỉ số IQ ở trẻ.

- Thang Vanderbilt: chẩn đoán và đánh giá chính xác mức độ ADHD ở trẻ

- Mẫu bệnh án phù hợp với các mục tiêu nghiên cứu.

2.4. Các bước tiến hành:

- Điều tra sàng lọc: sử dụng thang SDQ 25 với tất cả học sinh 8 trường học để lựa chọn những trẻ nghi ngờ ADHD. Mỗi học sinh sẽ có 2 sự đánh giá:

+ Học sinh tiểu học: giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh tự đánh giá mỗi học sinh qua thang SDQ.

+ Học sinh THCS: giáo viên chủ nhiệm và mỗi học sinh tự đánh giá qua thang SDQ.

- Tổ chức khám ngay tại trường học với các học sinh nghi ngờ ADHD qua sang lọc bằng thang SDQ : các BS chuyên khoa khám để chẩn đoán xác định ADHD theo đúng tiêu chuẩn của mục F90- ICD 10, có lưu ý chẩn đoán phân biệt ADHD với một số rối loạn khác ở trẻ em: rối loạn phát triển lan tỏa, chậm phát triển tâm thần, rối loạn cảm xúc...

- Phỏng vấn trực tiếp cha (mẹ) các học sinh đã được chẩn đoán ADHD để đánh giá các yếu tố liên quan.

III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 1: Tỷ lệ ADHD chung

Tổng số HS điều tra

Tổng số HS có ADHD

Tỷ lệ %

6.308

402

6,37

- Tỷ lệ ADHD trong số 6.308 học sinh được điều tra là 6,37% (402 trẻ). Tỷ lệ ADHD của một số nghiên cứu nước ngoài tương tự: Dunedin Longitudial Study (New Zealand) 6,7% ADHD, Nuttorn Pityaratstian (2013) tại Thailand: tỷ lệ ADHD trên toàn cầu là 5-8% trẻ em, một số tác giả đưa ra tỷ lệ thấp hơn: D.Marcelli (Pháp): 3% ADHD trong số trẻ em trước tuổi dậy thìHYPERLINK "http://vi.wikipedia.org/wiki/R%E1%BB%91i_lo%E1%BA%A1n_t%C4%83ng_%C4%91%E1%BB%99ng_gi%E1%BA%A3m_ch%C3%BA_%C3%BD, Sidney Bloch & Bruce S. Singh tập hợp một số nghiên cứu của một số quốc gia cho thấy tỷ lệ ADHD 4,3%. HYPERLINK "http://vi.wikipedia.org/wiki/R%E1%BB%91i_lo%E1%BA%A1n_t%C4%83ng_%C4%91%E1%BB%99ng_gi%E1%BA%A3m_ch%C3%BA_%C3%BDTỷ lệ ADHD của một số tác giả trong nước thấp hơn: Ngô Thanh Hồi (2006) khảo sát sức khỏe tâm thần 1.202 học sinh tiểu học và THCS trong độ tuổi 10-16 tuổi, tỷ lệ ADHD là 14,1%.

Bảng 2: Đặc điểm giới tính của trẻ ADHD

Giới tính

n

%

Nam

253

62,93

Nữ

149

37,07

Tổng

402

100.00

Trong số 402 trẻ ADHD, có 253 trẻ nam (62,93%) và 149 trẻ nữ (37,07%). Kết quả phù hợp với nhiều tác giả: Kaplan & Sadock (2004): ở Anh ADHD thường gặp ở nam nhiều hơn nữ, với tỉ lệ nam/nữ dao động từ 2/1 đến 9/1. Theo D.Marcelli (Pháp), trẻ trai có tỷ lệ ADHD gấp 10 trẻ gái.

Bảng 3: Tuổi khởi phát của trẻ ADHD

STT

Tuổi khởi phát

n=402

%

1

< 4 tuổi

57

14,18

2

4 tuổi

87

21,64

3

5 tuổi

173

43,04

4

> 5 tuổi

85

21,14

 

Trung bình

5,12 ± 2,13 (tuổi)

- Có tới 43,03% trẻ 5 tuổi khởi phát ADHD. Kết quả khác với một nghiên cứu của D.Marcelli (Pháp): tăng động giảm chú ý thường xuất hiện lúc trẻ 3 tuổi.

 

 

2. Thực trạng rối loạn ADHD ở một số trường học trên địa bàn Hà Nội

2.1. Tỷ lệ ADHD theo tuổi,  giới, học lực

Bảng 4: Tỷ lệ ADHD theo lứa tuổi

Lớp

Lứa tuổi

Chung

Nam

Nữ

n

%

n

%

n

%

1

6 (sinh 2008)

80

8,16

51

63,75

29

36,25

2

7 (sinh 2007)

85

7,87

52

61,18

33

38,82

3

8 (sinh 2006)

67

7,52

42

62,69

25

37,31

4

9 (sinh 2005)

43

5,88

28

65,12

15

34,88

5

10 (sinh 2004)

34

5,22

21

61,76

13

38,24

 

Tổng (Tiểu học)

309

7,13

194

62,78

115

37,22

6

11(sinh 2003)

37

5,83

24

64,86

13

35,14

7

12 (sinh 2002)

32

6,84

19

59,38

13

40,63

8

13 (sinh 2001)

15

3,35

9

60,00

6

40,00

9

14 (sinh 2000)

9

2,12

7

77,78

2

22,22

 

Tổng (THCS)

93

4,71

59

63,44

34

36,56

- Tỷ lệ ADHD ở trẻ 6 tuổi (sinh 2008, học lớp 1) cao nhất, 8,16%, sau đó đến trẻ 7 tuổi (sinh 2007, học lớp 2): 7,87%, trẻ 8 tuổi (sinh 2006, học lớp 3): 7,52%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đưa ra tỷ lệ ADHD cho trẻ từng lứa tuổi, sinh từ 2008 đến 2000 (lớp 1-lớp 9), nhưng trong y văn ít có tác giả nào nghiên cứu chi tiết như vậy. Theo Kaplan & Sadock (2004), tỉ lệ hiện mắc ADHD ở Mỹ từ 2-20% của trẻ tiểu học.

- Nếu tính riêng từng cấp học: thấy tỷ lệ ADHD ở học sinh THCS là 4,71%, tiểu học là 7,13%. Nguyễn Văn Thọ & cs (2000): ADHD chiếm 4,29% học sinh THCS,  6,6% học sinh tiểu học. Nguyễn Thị Vân Thanh và Nguyễn Sinh Phúc nghiên cứu trên 1.594 học sinh ở hai trường tiểu học tại Hà Nội thấy 3,01% trẻ ADHD. HYPERLINK "http://vi.wikipedia.org/wiki/R%E1%BB%91i_lo%E1%BA%A1n_t%C4%83ng_%C4%91%E1%BB%99ng_gi%E1%BA%A3m_ch%C3%BA_%C3%BDTheo Costello và cs (2003), tỷ lệ ADHD là 2,2% ở tuổi lên 9; 1,4% ở tuổi 12 và 0,3% ở tuổi 16.

 

 

Bảng 5: Tỷ lệ ADHD theo giới

Giới tính

N

Tăng động- ADHD

n

%

Nam

3.529

253

7,17

Nữ

2.779

149

5,36

Tổng

6.308

402

6,37

- 7,17% học sinh nam bị ADHD, cao hơn 5,36% học sinh nữ. Kết quả phù hợp với rất nhiều nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho rằng ADHD gặp ở nam nhiều hơn nữ.

Bảng 6: Tỷ lệ ADHD theo học lực

STT

Học lực

n

%

1

Xếp loại kém

97

24,13

2

Xếp loại trung bình

227

56,47

3

Xếp loại khá

57

14,18

4

Xếp loại giỏi

21

5,22

 

Tổng

402

100.00

Tỷ lệ trẻ ADHD đạt học lực loại giỏi thấp nhất: 5,22%, sau đó đến học lực loại khá, 14,18%, có 24,13% trẻ ADHD xếp loại học lực kém. Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét của nhiều tác giả: trẻ ADHD bị ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập do giảm chú ý nên không tuân theo sự hướng dẫn của thầy cô giáo. Trí thông minh và ADHD không có liên quan gì đến nhau. Khó khăn trong học tập là hậu quả của việc giảm tập trung chú ý và tăng động gây nên chứ không phải do trẻ kém thông minh. Khoảng 19-26% trẻ có ADHD sẽ có khó khăn đủ để chẩn đoán là có rối loạn học tập & khoảng 80% trẻ có rối loạn học tập đủ để trẻ bị thụt lùi 2 lớp so với trẻ cùng tuổi (Barley, 2003). Kết quả học tập kém là hậu quả tự nhiên của trẻ kém tập trung chú ý, tăng hoạt động và bốc đồng.

 

 

 

 

 

2.2. Một số biểu hiện lâm sàng ADHD

Bảng 7: Các biểu hiện tăng động

STT

Các biểu hiện

n=402

Tần suất

1

Hoạt động luôn chân tay

402

100,00

2

Cãi nhau, đánh nhau với bạn

392

97,51

3

Cựa quậy chân tay hoặc vặn vẹo, ngồi không yên

381

94,78

4

Rời khỏi chỗ ở những nơi phải ngồi yên

358

89,05

5

Nói quá nhiều, nói chuyện trong giờ học

357

88,81

6

Chạy nhảy, leo trèo quá mức quá mức ở những nơi cần phải ngồi yên

283

70,40

7

Mất trật tự thường xuyên trong lớp

254

63,18

- Các biểu hiện tăng động như hoạt động luôn chân tay như thể được gắn “động cơ” là biểu hiện gặp ở tất cả các trẻ tăng động, sau đó đến biểu hiện cãi nhau, đánh nhau với bạn 97,51%, cựa quậy chân tay hoặc vặn vẹo, ngồi không yên 94,78%. Một số biểu hiện khác gặp với tỷ lệ thấp hơn: Rời khỏi chỗ ở những nơi phải ngồi yên 89,05%, nói quá nhiều 88,81%, chạy nhảy, leo trèo quá mức quá mức ở những nơi cần phải ngồi yên 70,4%, mất trật tự thường xuyên trong lớp 63,18%.

Bảng 8: Các biểu hiện giảm chú ý

 

STT

Các biểu hiện

n=402

Tần suất

1

Khó khăn khi phải duy trì chú ý vào nhiệm vụ/hoạt động

385

95,77

2

Dễ sao nhãng bởi các kích thích bên ngoài

367

91,29

3

Không chú ý nghe hội thoại

317

78,86

4

Không tuân theo hướng dẫn hoặc không chú ý vào các chi tiết

287

71,39

- Các biểu hiện của giảm chú ý như gặp khó khăn khi phải duy trì chú ý vào thực hiệm một nhiệm vụ hoặc hoạt động nào đó 95,77%, dễ sao nhãng bởi các kích thích bên ngoài 91,29%, trẻ không chú ý nghe hội thoại 78,86%, không tuân theo hướng dẫn hoặc không chú ý vào chi tiết 71,39%. Kết quả không khác biệt nhiều so với đánh giá của tác giả Quách Thúy Minh trên 42 trẻ ADHD được can thiệp tại bệnh viện Nhi trung ương năm 2010: 100% trẻ ngồi học không yên; 83,3% trẻ nói quá nhiều; 100% nghịch quá nhiều; 100% rất ít chú ý  nghe hướng dẫn...Theo kinh nghiệm của chúng tôi khi tiến hành trị liệu cho trẻ ADHD tại trường tiểu học Phúc Lợi năm 2012, đây là những biểu hiện hay gặp nhất và thường gây khó khăn nhiều trong trị liệu tâm lý.

3. Nhận xét một số yếu tố liên quan đến ADHD

Bảng 9: Các yếu tố liên quan trong quá trình mang thai và sinh đẻ

STT

Các yếu tố

n=402

Tần suất

1

Sinh thiếu tháng

43

10,70

2

Sinh mổ

36

8,96

3

Nhẹ cân khi sinh

17

4,23

4

Mẹ nghén nặng

12

2,99

5

Can thiệp khi sinh

11

2,74

6

Ngạt khi sinh

9

2,24

7

Mẹ uống rượu

7

1,74

8

Có vấn đề tâm lý

5

1,24

8

Dọa xảy thai

3

0,75

9

Mẹ hút thuốc lá

1

0,25

- Trong các yếu tố liên quan đến quá trình mang thai và sinh đẻ, trẻ sinh thiếu tháng có tỷ lệ ADHD cao nhất: 10,7%, trẻ ngạt khi sinh có tỷ lệ thấp hơn: 2,24% trẻ. Theo một số nghiên cứu: tỷ lệ ADHD tăng cao ở những trẻ sinh thiếu tháng, ngạt sau sinh… Darios Getahun (Hoa Kỳ), cho rằng những trường hợp thiếu oxy cấp tính cũng như mạn tính ở người mang thai đều liên quan với nguy cơ gia tăng ADHD sau này. Các mối liên quan với sự xuất hiện của ADHD cũng được tìm thấy trong những trường hợp sinh non, ngôi ngược hay ngôi ngang, bất thường dây rốn khi sinh...

 

Bảng 10: Môi trường sống hiện tại

STT

Môi trường sống hiện tại

= 402

Tần suất

1

Gia đình sống riêng

344

85,57

2

Gia đình sống chung nhiều người

58

14,43

3

Có phòng riêng cho trẻ

134

33,33

4

Không có phòng riêng cho trẻ

268

66,67

- 85,57% trẻ ADHD sống trong môi trường riêng với cha mẹ, anh, chị, em ruột, chỉ có 14,43% gia đình trẻ sống cùng nhiều người như ông bà, cô, gì, chú, bác... Có 33,33% gia đình có phòng riêng cho trẻ, 66,67% gia đình không có. Theo Kaplan & Sadock, nguyên nhân của ADHD là sự tương tác phức tạp của nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố môi trường, yếu tố tâm lý xã hội, sang chấn, bị hành hạ…HYPERLINK "http://vi.wikipedia.org/wiki/R%E1%BB%91i_lo%E1%BA%A1n_t%C4%83ng_%C4%91%E1%BB%99ng_gi%E1%BA%A3m_ch%C3%BA_%C3%BDTheo Quách Thúy Minh (2011): nguyên nhân của ADHD do nhiều yếu tố kết hợp, trong đó có yếu tố môi trường sống bất lợi như chật chội…

Bảng 11: Mức sống gia đình hiện tại

STT

Mức sống gia đình

n

%

1

Khá giả

68

16,92

2

Trung bình

325

80,85

3

Dưới mức trung bình

9

2,23

 

Tổng

402

100.00

- Đa số cha mẹ trẻ ADHD tự nhận thấy mức sống của gia đình mình ở mức trung bình, chỉ có 16,92% gia đình khá giả và 2,23% gia đình dưới mức trung bình. Trong y văn, ít tác giả nghiên cứu tố này.

Bảng 12: Cuộc sống gia đình

STT

Cuộc sống gia đình

n

%

1

Hạnh phúc

363

90,30

2

Không hạnh phúc

21

5,22

3

Có yếu tố stress

18

4,48

4

Không thống nhất trong giáo dục trẻ

34

8,46

- 90,30% gia đình trẻ ADHD thấy cuộc sống hạnh phúc, chỉ có 5,22% sống không hạnh phúc, 4,48% gia đình có yếu tố sang chấn. Về vấn đề này, nhiều tác giả chưa thống nhất: theo A.J.Smith và cs (2002), có mối liên quan mật thiết giữa mối quan hệ xung khắc cha mẹ-con và ADHD. Ngược lại, Rey và cs (2000) chỉ ra rằng môi trường gia đình không tốt liên quan đến rối loạn hành vi đạo đức và chống đối chứ không liên quan ADHD. Tác giả Levy. F (1997): xung đột gia đình làm tăng phát triển ADHD trên trẻ đã có săn nguy cơ di truyền.

Bảng 13: Thời gian gia đình biết trẻ bị ADHD

STT

Thời gian

n

%

1

1-3 tháng

13

3,23

2

3-6 tháng

18

4,48

3

6-12 tháng

36

8,96

4

>12 tháng-2 năm

103

25,62

5

> 2 năm

232

57,71

 

Tổng

402

100.00

- Có tới 57,71% gia đình sau 2 năm mới biết con mình bị tăng động, giảm chú ý, 25,62% gia đình biết sau 1-2 năm. Tỷ lệ gia đình sớm biết trẻ bị bệnh (1-6 tháng) rất thấp, 7,71%. Như vậy, rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ em chưa được nhiều gia đình lưu ý, vì vậy gần 2/3 số cha mẹ sau 2 năm mới biết con mình mắc chứng này.

IV. KẾT LUẬN

1- Thực trạng ADHD ở học sinh một số trường học trên địa bàn Hà Nội.

- Tỷ lệ tăng động, giảm chú ý chung là 6,37%

- Tỷ lệ tăng động, giảm chú ý cao nhất ở trẻ 6 tuổi: 8,16%, thấp nhất ở trẻ 14 tuổi: 2,12%.

- Tỷ lệ tăng động, giảm chú ý ở học sinh tiểu học là 7,13%, cao hơn 4,71% học sinh THCS.

- Tỷ lệ ở trẻ tăng động đạt học lực loại giỏi thấp nhất: 5,22%.

2- Nhận xét một số yếu tố liên quan và biểu hiện lâm sàng ADHD:

* Một số yếu tố liên quan:

- Một số yếu tố liên quan đến ADHD trong quá trình mang thai và sinh đẻ: 10,7% trẻ sinh thiếu tháng; 8,96% trẻ sinh mổ; 2,99% mẹ nghén nặng; 2,74% trẻ phải can thiệp khi sinh; 2,24% trẻ ngạt khi sinh; 1,24% mẹ có vấn đề tâm lý; 1,74% mẹ uống rượu; 0,25% mẹ hút thuốc lá khi mang thai.

- Một số yếu tố khác: quan hệ giữa cha mẹ và trẻ; cuộc sống gia đình; thời gian cha mẹ dành cho trẻ;  không thống nhất trong giáo dục trẻ; môi trường sống là những yếu tố có liên quan đến trẻ tăng động, giảm chú ý.

* Một số biểu hiện lâm sàng:

+ Biểu hiện tăng động: 100% hoạt động luôn chân tay; 97,51% cãi nhau, đánh nhau với bạn; 94,78% cựa quậy chân tay hoặc vặn vẹo, ngồi không yên; 89,05% rời khỏi chỗ ở những nơi phải ngồi yên; 88,81% nói quá nhiều.

+ Biểu hiện giảm chú ý: 100% mắc lỗi cẩu thả trong học tập và công việc, 95,77% trẻ gặp khó khăn khi phải duy trì chú ý; 78,86% trẻ không chú ý nghe hội thoại; 71,39% không tuân theo hướng dẫn hoặc không chú ý vào chi tiết.

- Có 57,71% gia đình sau 2 năm mới biết con mình bị ADHD.

V. KIẾN NGHỊ

1- Rối loạn tăng động, giảm chú ý thường gặp ở học sinh tiểu học và trung học cơ sở, nhưng chưa được nhận biết và phát hiện sớm, vì vậy cần tăng cường tuyên truyền giáo dục trong nhà trường và cha mẹ học sinh.

2- Rối loạn tăng động, giảm chú ý cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn vấn đề điều trị và can thiệp tâm lý./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Phần tiếng Việt:

1. Kaplan & Sadock (2013), “Tóm lược tâm thần học trẻ em & thanh thiếu niên”, Toát yếu về tâm thần học của Kaplan & Sadock do Nguyễn Kim Việt biên dịchNhà xuất bản y học, tr 151; 160; 169.

2. Quách Thúy Minh (2011), “Rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ em” 
Tạp chí sức khỏe và đời sống cuối tháng 8, sức khỏe tâm thần, tr 20

3. Sidney Bloch & Bruce S. Singh (2003), “Rối loạn tăng động và thiếu tập trung chú ý”, Cơ sở của lâm sàng tâm thần học, Bản dịch tiếng Việt của Trần Viết Nghị và cs, Nhà xuất bản Y học, tr 347, 365-366.

4. Nguyễn Văn Siêm (2007), “Tâm bệnh học trẻ em & thanh thiếu niên”Nhà xuất bản ĐHQGHà Nội, tr 203-209. 

5. Nguyễn Văn Thọ & CS (2000), “Nghiên cứu xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe tâm lý-tâm thần cho học sinh phổ thông ở Đồng Nai”, Nội san số 12/2000 bệnh viện tâm thần Biên Hòa, tr 20.

6. Tổ chức Y tế Thế Giới (1992), “ Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi”, Tổ chức Y tế thế giới, Geneva,

Phần tiếng Anh:

7. Biederman, J., Faraone, S. V., Keenan, K., Knee, E., et al. (1990). Family-genetic and psychosocial risk factors in DSM-III attention deficit disorder.Journal of the American Academy of Child and Adolescent Psychiatry, 29, tr 526-533.

8. Kaplan & Sadock’S (2005), “Attention-Deficit Disorders”, Concise Textbook of Clinical Psychiatry; second edition, Lippincott Williams & Wilkins, Page 544.

9. Levy F., Hay, D.A., McStephen, M., Wood, C., & Waldman, I. (1997). Attention-deficit hyperactivity disorder: a category or a continuum? Genetic analysis of a large-scale twin study. Journal of the American Academy of Child and Adolescent Psychiatry, 36, tr 737-744.

Bình luận

Tin tức mới