Khuyết tật trí tuệ (Intellectual Disability – ID)

Ngày sức khỏe Tâm thần thế giới 10/10 - Chung tay ngăn ngừa tự sát
Phản ứng stress cấp (ARS: Acute stress reation)
Ám ảnh sợ khoảng trống
Rối loạn hoảng sợ
Rối loạn ám ảnh cưỡng bức

Suy giảm chức năng trí tuệ bao gồm: khả năng lập luận, giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, suy nghĩ trừu tượng, phán xét, học tập. Sự suy giảm này được xác định bằng đánh giá lâm sàng kết hợp bài kiểm tra trí tuệ...

Bác sĩ. Nguyễn Thúy Anh

Image result for intellectual disability

Khuyết tật trí tuệ (trước đây gọi là Chậm phát triển tâm thần) là một bệnh lý gây ra bởi các yếu tố liên quan đến gen và môi trường, dẫn đến sự suy giảm chức năng nhận thức và xã hội. Tỷ lệ khuyết tật trí tuệ có xu hướng tăng dần trong một vài năm trở lại đây, theo số liệu của Trung tâm Phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh CDC, tỷ lệ trẻ khuyết tật trí tuệ năm 2016 là 6,99%. Tại Việt Nam, số liệu điều tra gần nhất ước tính khoảng 0,67% dân số.

Nguyên nhân

Khuyết tật trí tuệ có thể xuất hiện do một hoặc nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm:

- Bất thường gen di truyền ( bất thường mới hoặc bất thường có từ trước trong gia đình)

- Bệnh lý cơ thể: nhiễm trùng, chấn thương sọ não, thoái hóa thần kinh, bại não, nhiễm độc thần kinh…

- Tình trạng thiếu cơ hội được giáo dục ảnh hưởng đến phát triển trí tuệ

Chẩn đoán

Chẩn đoán khuyết tật trí tuệ dựa vào sự suy giảm các trên toàn bộ các mặt hoạt động chức năng tâm thần, biểu hiện:

- Suy giảm chức năng trí tuệ bao gồm: khả năng lập luận, giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, suy nghĩ trừu tượng, phán xét, học tập. Sự suy giảm này được xác định bằng đánh giá lâm sàng kết hợp bài kiểm tra trí tuệ.

- Suy giảm chức năng hòa nhập: thể hiện bằng hạn chế các hoạt động các hoạt động hàng ngày như tương tác, giao tiếp xã hội, sống độc lập trong các môi trường khác nhau khi không có sự trợ giúp

- Suy giảm trí tuệ và suy giảm chức năng hòa nhập khởi phát trong suốt quá trình phát triển

Trẻ khuyết tật trí tuệ có thể gặp các bênh lý đi kèm khác như: bất thường về thính giác, thị giác; rối loạn ngôn ngữ; động kinh. Một số trẻ lớn hơn hạn chế kỹ năng ngôn ngữ để biểu đạt cảm xúc có thể gặp vấn đề về rối loạn cảm xúc hành vi (lo âu, trầm cảm, thậm chí dẫn đến hành vi gây hấn, tự sát); rối loạn giấc ngủ. Một số trẻ có thể trở thành nạn nhân của nạn bắt nạt học đường hoặc các tệ nạn xã hội khác.

Điều trị

Hiện nay chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu cho trẻ mắc khuyết tật trí tuệ.

Các chương trình can thiệp toàn diện được thiết kế với sự tham gia của nhiều nhà chuyên môn khác nhau (bác sỹ nhi khoa, bác sỹ tâm thần, nhà tâm lý, cán bộ giáo dục đặc biệt, …) để giúp trẻ có khă năng hòa nhập tốt hơn với môi trường. Trẻ mắc khuyết tật trí tuệ cần nhiều sự hỗ trợ hơn từ gia đình, nhà trường, cộng đồng xung quanh để xây dựng lòng tự tin, kiên trì học tập phát triển kĩ năng mới.

 Trẻ có vấn đề về bệnh lý cơ thể hoặc rối loạn tâm thần khác đi kèm cần được theo dõi, đánh giá bởi bác sỹ nhi khoa, bác sỹ tâm thần để cân nhắc sử dụng liệu pháp hóa dược khi cần thiết. 

Nguồn tham khảo

https://www.aacap.org/aacap/families_and_youth/facts_for_families/fff-guide/Children-with-an-Intellectual-Disability-023.aspx