Logo

NHẬN XÉT HIỆU QUẢ TƯ VẤN TÂM LÝ CHO PHỤ HUYNH CỦA TRẺ CÓ RỐI LOẠN NGÔN NGỮ

  06/09/2019

Ths. Nguyễn Thị Thanh Huyền

Khoa Nhi – Bệnh viện Tâm thần Hà Nội

Tóm tắt

Nghiên cứu về hiệu quả tư vấn tâm lý cho 50 phụ huynh của trẻ có rối loạn ngôn ngữ (RLNN) đang can thiệp tại khoa Nhi – Bệnh viện tâm thần Hà Nội từ 4-2018 đến 10-2018 chúng tôi nhận thấy rằng: Trước khi tư vấn phụ huynh nhận thức chưa đúng về RLNN chiếm tỉ lệ cao 40% , phụ huynh nhận thức đúng về (RLNN) chỉ chiếm tỉ lệ thấp 6%. Sau khi tư vấn, phụ huynh nhận thức về RLNN ở trẻ em có sự thay đổi. Phần lớn phụ huynh nhận thức đúng về RLNN chiếm 58%. Tuy nhiên vẫn còn 16% phụ huynh chưa nhận thức đúng. Trước tư vấn tỉ lệ phụ huynh có biểu hiện trầm cảm nhẹ chiếm tỉ lệ 32%, trầm cảm vừa 2%, sau tư vấn trầm cảm nhẹ còn 12%, không còn phụ huynh nào cảm vừa và nặng. Phụ huynh có lo âu nhẹ trước khi tư vấn cũng chiếm tỉ lệ khá cao 44%, lo âu vừa chiếm tỉ lệ 8%, sau tư vấn tỉ lệ phụ huynh có lo âu nhẹ giảm còn 16%, lo âu vừa còn 2%.

I. Đặt vấn đề

Hiện nay tình trạng trẻ có biểu hiện RLNN ngày càng tăng. Ước chừng khoảng 3 – 5% trẻ em còn có rối loạn về tiếp thu ngôn ngữ hay bày tỏ ngôn ngữ hoặc cả hai. Trong đó “75% trẻ có biểu hiện RLNN không biết rõ nguyên nhân mắc bệnh nhưng có hoàn cảnh giống nhau như cha mẹ ít trò chuyện cùng con, trẻ thường xem ti vi, điện thoại một mình. Phần lớn trẻ là con của các cặp vợ chồng đam mê công việc”.

Tại Việt Nam, vấn đề phát hiện và can thiệp sớm trẻ có RLNN nói chung còn chưa thực sự được quan tâm. Một số gia đình, họ cho rằng RLNN có thể tự biến mất khi trẻ lớn và bắt đầu đi học. Việc này dẫn đến bệnh lý kéo dài đến tuổi trưởng thành và gây ảnh hưởng đến sự phát triển chung của trẻ, một số trẻ có thể bị chậm phát triển tâm thần. Bên cạnh đó một số phụ huynh và giáo viên còn chưa có kiến thức đầy đủ về bệnh lý, do đó chưa biết cách hỗ trợ trẻ hiệu quả trong quá trình can thiệp.

Tại khoa Nhi - Bệnh viện tâm thần Hà Nội, số lượng trẻ được chẩn đoán RLNN ngày càng tăng, nhu cầu tham gia trị liệu ngôn ngữ cũng tăng cao. Tuy nhiên, qua khảo sát một số phụ huynh chúng tôi nhận thấy rằng họ còn chưa thực sự hiểu, quan tâm đến những bất thường về ngôn ngữ của trẻ và tham gia hỗ trợ trẻ trong quá trình can thiệp. Bên cạnh đó thì cũng có một số phụ huynh tỏ ra rất lo lắng, căng thẳng khi chăm sóc và giáo dục trẻ ở nhà vì thiếu những kỹ năng chăm sóc và giáo dục phù hợp cho trẻ ở nhà khiến cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ đã khó khăn càng thêm khó khăn.

Mục tiêu nghiên cứu

1. Đánh giá nhận thức và những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của phụ huynh của trẻ có rối loạn ngôn ngữ.

2. Nhận xét hiệu quả tư vấn tâm lý cho phụ huynh của trẻ có rối loạn ngôn ngữ đến khám và điều trị tại bệnh viện tâm thần Hà Nội.

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Nhi – Bệnh viện Tâm thần Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu bao gồm 50 phụ huynh của trẻ dưới 6 tuổi được chẩn đoán RLNN theo tiêu chuẩn chẩn đoán ICD – 10 và đang can thiệp tại khoa Nhi Bệnh viện Tâm thần Hà nội.

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang tại hai thời điểm: Trước tư vấn (T0) và sau tư vấn (T1). Theo dõi dọc tiến cứu hiệu quả can thiệp.

III. Kết quả nghiên cứu

1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu:

Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy tỉ lệ phụ huynh được nghiên cứu là nữ giới chiếm tỉ lệ cao 60% và nam giới chiếm tỉ lệ thấp hơn 40%.

Sự chênh lệch về giới tính của phụ huynh cho thấy trẻ điều trị tại khoa được sự quan tâm, chăm sóc của mẹ nhiều hơn.

2. Nhận thức của phụ huynh trước và sau tư vấn.

1.1. Thay đổi nhận thức của phụ huynh về RLNN

Bảng 1. Thay đổi nhận thức của phụ huynh về RLNN của trẻ.

Nhận thức

T0 T1

N

%

N

%

Nhận thức chưa đúng

20

40

8

16

Nhận thức chưa đầy đủ

27

54

13

26

Nhận thức đúng

3

6

29

58

Tổng số

50

100

50

100

Kết quả nghiên cứu cho thấy trước khi tư vấn số phụ huỵnh nhận thức chưa đầy đủ về RLNN là 54% và nhận thức chưa đúng về RLNN là 40%. Phụ huynh nhận thức đúng chiếm tỉ lệ rất thấp. Sau khi tư vấn, phụ huynh nhận thức về RLNN ở trẻ em có sự thay đổi. Phần lớn phụ huynh nhận thức đúng về RLNN chiếm 58%. Bên cạnh đó còn có 26% phụ huynh nhận thức chưa đầy đủ về RLNN. Tuy nhiên vẫn còn 16% phụ huynh chưa nhận thức đúng.

1.2. Thay đổi nhận thức của phụ huynh về những người tham gia vào quá trình can thiệp trẻ RLNN

Biểu đồ 1: Thay đổi nhận thức của phụ huynh về vai trò của những người tham gia vào quá trình can thiệp trẻ RLNN qua hai thời điểm T0 và T1 .

Qua kết quả khảo sát về nhận thức của phụ huynh về vai trò của những người tham can thiệp trẻ RLNN cho thấy: Trước tư vấn phụ huynh chưa có sự định hướng rõ ràng về vai trò của những người tham gia vào quá trình can thiệp trẻ. Phụ huynh lựa chọn cán bộ tâm lý chiếm tỉ lệ 52%, gia đình chiếm 26%, bác sĩ chiếm 44%, điều dưỡng 42%,  giáo viên chuyên biệt chiếm 38%, cán bộ công tác xã hội chiếm tỉ lệ thấp nhất 20%. Sau khi tư vấn, kết quả có sự thay đổi một cách đáng kể. Phụ huynh lựa chọn gia đình chiếm tỉ lệ cao nhất 78%, cán bộ tâm lý chiếm tỉ lệ 76%, giáo viên chuyên biệt 72%, bác sĩ chiếm 54%, cán bộ công tác xã hội chiếm 44%, điều dưỡng chiếm tỉ lệ thấp 18%.

1.3. Thay đổi nhận thức của phụ huynh về các phương pháp điều trị

Bảng 2: Thay đổi nhận thức của phụ huynh về các phương pháp điều trị có hiệu quả cho trẻ RLNN qua hai thời điểm T0 và T1 .

                                             Thời gian

 

Phương pháp

T0

T1

N

%

N

%

Thuốc

12

24

13

26

Can thiệp giáo dục đặc biệt

48

92

20

100

Phục hồi chức năng

11

22

14

28

Cấy chỉ

1

2

0

0

Bấm huyệt

4

8

1

2

Châm cứu

2

4

0

0

Cúng bái

2

4

0

0

Ghép tế bào gốc

2

4

1

2

Kết quả nghiên cứu cho thấy số phụ huynh chọn giáo dục đặc biệt chiếm tỉ lệ cao nhất cả trước và sau tư vấn là 92% và 100%. Trước tư vấn can thiệp bằng thuốc chiếm 24% và phục chức năng 22%, sau tư vấn số phụ huynh lựa chọn can thiệp phục hồi chức năng là 28% và thuốc là 26% . Trước tư vấn một số phương pháp can thiệp khác cũng được phụ huynh lựa chọn như bấm huyệt chiếm 8%, châm cứu và cấy tế bào gốc cùng chiếm 4%, sau tư vấn không có phụ huynh nào lựa chọn cúng bái và châm cứu nữa.

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của phụ huynh.

Bảng 3: Tương quan giữa trình độ học vấn với nhận thức của phụ huynh về RLNN.

 

Nhận thức của phụ huynh về RLNN

Trình độ học vấn

r = 0,304*

Sig = 0,032

N = 50

Nhận xét: Kết quả khảo sát cho thấy trình độ học vấn và nhận thức của phụ huynh về RLNN có tương quan chặt chẽ với r = 0,304*, Sig = 0,032 (< 0,05).

1.5. Nhận xét hiệu quả tư vấn tâm lý cho phụ huynh của trẻ có RLNN.

1.5.1 Thay đổi cảm xúc của phụ huynh khi trẻ có vấn đề về RLNN

Bảng 4: Thay đổi cảm xúc của phụ huynh khi trẻ có RLNN

                                                    Thời gian

 

Cảm xúc

T0

T1

N

%

N

%

Lo lắng, buồn chán

38

76

16

32

Mặc cảm, tự ti

18

36

6

12

Áp lực

21

42

13

26

Khác (bình thường)

8

16

19

38

Trước tư vấn số phụ huynh cảm thấy lo lắng buồn chán chiếm tỉ lệ cao 76%, áp lực chiếm 42% và mặc cảm, tự ti chiếm 36%, bên cạnh đó phụ huynh lựa chọn cảm xúc khác (bình thường) chiếm tỉ lệ thấp 16%. Sau khi tư vấn kết quả có sự thay đổi theo hướng tích cực hơn. Tỉ lệ lo lắng buồn chán giảm còn 32%, áp lực giảm còn 26%, mặc cảm, tự ti 12%.

1.5.2. Sự thay đổi mức độ trầm cảm (PHQ9) của đồi tượng nghiên cứu trước và sau tư vấn.

Bảng 5: Thay đổi mức độ trầm cảm theo thang đánh giá trầm cảm cộng đồng (PHQ9)

                                                Thời gian

Mức độ

T0

T1

Tỉ lệ %

Tỉ lệ %

Không trầm cảm

66

88

Trầm cảm mức nhẹ

32

12

Trầm cảm mức vừa

2

0

Trầm cảm mức nặng

0

0

Trước tư vấn phụ huynh khi biết con có vấn đề RLNN  có biểu hiện trầm cảm mức độ nhẹ chiếm tỉ lệ 32%, mức độ vừa là 2%, không có biểu hiện trầm cảm là 66%. Tại thời điểm T1 sau khi được tư vấn đã có sự chuyển biến. Tỉ lệ phụ huynh có biểu hiện trầm cảm nhẹ giảm xuống còn 12%, không có phụ huynh nào có biểu hiện trầm cảm mức vừa và nặng, phụ huynh không có biểu hiện trầm cảm tăng lên là 88%.

Bảng 6: Thay đổi mức độ lo âu  của phụ huynh trẻ RLNN (thang GAD) 

Mức độ

T0

T1

Tỉ lệ (%)

Tỉ lệ(%)

 Không lo âu 

48

82

Lo âu  mức nhẹ

44

16

Lo âu  mức vừa

8

2

Lo âu  mức nặng

0

0

Trước tư vấn mức độ lo âu nhẹ chiếm tỉ lệ 44%, mức độ lo âu vừa là 8%, không lo âu là 48%. Sau khi được tư vấn, tại thời điểm T1 mức lo âu nhẹ giảm xuống còn 16%, mức lo âu vừa còn 2% và không lo âu tăng lên 82%.

IV. Kết luận

Qua kết quả nghiên cứu 50 phụ huynh của trẻ RLNN được khám, can thiệp tại khoa Nhi, Bệnh viện Tâm thần Hà Nội chúng tôi rút ra một số kết luận như sau.

- Thay đổi nhận thức của phụ huynh sau khi được tư vấn về các nội dung sau:

+ Nhận thức đúng về RLNN từ 3% tăng lên 58%

+ Nhận thức về vai trò của người tham gia can thiệp: 78% gia đình, 76% cán bộ tâm lí, 54% bác sĩ, 18% điều dưỡng.

+ Nhận thức về các phương pháp điều trị có hiệu quả cho trẻ RLNN: 100% can thiệp giáo dục đặc biệt, 26% do thuốc.

+ Nhận thức về vai trò của người chăm sóc: 88% cho rằng rất quan trọng

- Nhận xét về hiệu quả tư vấn cho phụ huynh của trẻ RLNN:

+  62% phụ huynh cho trẻ đi mẫu giáo

+ 100% phụ huynh đưa trẻ đi can thiệp tại trung tâm

+ 54% phụ huynh tìm hiểu các phương pháp can thiệp tại nhà

+  92% phụ huynh muốn được tham gia tập huấn

+  88% phụ huynh muốn tham khảo sách vở

+ 82% phụ huynh muốn tham khảo kinh nghiệm của các phụ huynh khác

+ 88% phụ huynh không còn bị trầm cảm

+ 82% phụ huynh không còn bị lo âu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trần Thị Minh Đức, 2012, Giáo trình tham vấn tâm lý, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
  2. Lê Khanh, 2010, Phòng tránh và can thiệp sớm rối nhiễu tâm lý trẻ em, NXB Phụ Nữ.
  3. Trần Thị Hải Vân, 2016, Đánh giá hiệu quả giáo dục tâm lý cho phụ huynh có cn bị bệnh tự kỷ được điều trị tại bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng, Nghiên cứu khoa học.
  4. David Skuse et Al, 9/2017, Child psychology and Psychiatry ,Second Edition
  5. James Carter et Karol Musher _ Evaluation and treatment of speech and language disorders in children
  6. Paul, R.&Norbury, C.F, 2012, Language disorders: from Infancy through Adolescence (4th ed.) St. Louis, M.S.: Elsevier
Bình luận

Tin tức mới