Logo

NHẬN XÉT MỘT SỐ TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN THƯỜNG GẶP CỦA OLANZAPIN TRÊN BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT CAO TUỔI

  16/09/2019

Bs CKII. Ngô Hùng Lâm

Bs CKI. Ngô Thị Thanh Hòa

Tóm tắt:

Nghiên cứu 37 NB đư­ợc chẩn đoán là TTPL theo tiêu chuẩn của ICD - 10,tuổi từ 60 trở lên đ­ược điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội. Thời gian nghiên cứu từ tháng 2/2017 đến tháng 9/2018. Một số tác dụng phụ không mong muốn thường gặp khi điều trị bằng Olanzapin: gây tăng cân gặp nhiều nhất với 20 NB chiếm 54%, tăng đường huyết có 11 NB chiếm 29,7%; rối loạn tim mạch 16,2% trong đó chủ yếu là tăng nhịp tim. Còn lại các tác dụng phụ khác như bồn chồn bất an, loạn trương lực cơ cấp, trạng thái giống Parkinson và tăng huyết áp đều ít gặp với tỉ lệ thấp. Thời điểm xuất hiện các tác dụng không mong muốn chủ yếu xảy ra ở ngày 28 đến 58 (T3 đến T4) của liệu trình điều trị. Phần lớn các tác dụng không mong muốn này đều ở mức độ nhẹ, không cần phải xử trí và can thiệp trên lâm sàng.

I. Đặt vấn đề

Các thuốc an thần kinh thế hệ mới: Olanzapine, Clozapine… đã thể hiện được nhiều ưu việt trong điều trị, có tác dụng trên nhóm triệu chứng âm tính và dương tính, đồng thời ít tác dụng không mong muốn. Chất lượng cuộc sống của người bệnh tâm thần được nâng cao nhờ thuốc ít tác dụng phụ ngoại tháp, không tạo ra cảm giác khó chịu như bồn chồn, bất an... NB vẫn có thể dùng thuốc và làm việc được, tuân thủ chế độ điều trị tốt hơn. Tuy vậy thuốc có một số tác dụng phụ khác và là nguy cơ của nhiều bệnh lý ảnh hưởng đến sức khỏe: tăng huyết áp, rối loạn nội tiết…

Tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, gần đây việc sử dụng Olanzapin trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt ở người cao tuổi trở nên khá phổ biến. Đã có nhiều nghiên cứu về tác dụng của Olanzapine nhưng chưa có nghiên cứu sâu nào về tác dụng không mong muốn của Olanzapine ở người cao tuổi. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu “Nhận xét một số tác dụng không mong muốn thường gặp của Olanzapine trên NB tâm thần phân liệt người cao tuổi được điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội”

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.

Nghiên cứu 37 NB đư­ợc chẩn đoán là TTPL  tuổi từ 60 trở lên được điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội từ tháng 2/2017 đến tháng 9/2018.Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang theo dõi từng trường hợp. Loại trừ những NB có chống chỉ định với thuốc, có các bệnh lý phối hợp, có tiền sử sử dụng ma túy rượu và không có người nhà cung cấp bệnh sử tiền sử, không hợp tác trong quá trình nghiên cứu và làm các xét nghiệm. Nghiên cứu có sử dụng bệnh án được thiết kế chuyên biệt. Số liệu được sử lý bằng chương trình SPSS 16.0.

III. Kết quả

Nhóm NB hay gặp nhất từ 60 – 64 (45,94%), tuổi trung bình là 66,16±5,72.Về tuổi khởi phát  cho thấy gặp nhiều nhất là khởi phát ở giai đoạn thanh niên (20-29), chiếm 48,64%. Ít gặp khởi phát trước tuổi 20 và không gặp khởi phát sau tuổi 40. Không có sự khác biệt giữa hai giới về tuổi khởi phát. Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét của Kaplan H.I[1]. Theo DSM-IV, ICD-10và nhiều tác giả khác là bệnh TTPL chủ yếu khởi phát ở tuổi trẻ và hiếm gặp khởi phát sau 40 tuổi.

Bảng 1. Liều l­ượng thuốc Olanzapine

Liều l­ượng

n

%

<10 mg

5

13,5

 10 – 20 mg

32

86,5

>20 mg

0

0

Tổng số:

37

100,0

Trong số 37 NB sử dụng Olanzapin thì có 5 NB dùng liều 5mg, chiếm 13,5%, 32 NB dùng liều 10 – 20 mg (trong đó có 13 NB dùng liều 10mg, 18 NB dùng liều 20 mg và 1 NB dùng liều 15 mg) chiếm tỉ lệ cao nhất 86,5% và không có NB nào dùng liều > 20 mg. Liều thuốc trung bình là 14,32 ± 5,91mg; trong đó nam là 14,69 ± 5,95mg và nữ là 12,00 ± 5,70mg.

Bảng 2. Biểu hiện tăng cân trên bệnh nhân ở thời điểm NC

                Thời điểm

 

 

Cân nặng

Ngày 7

(T1)

Ngày 14

(T2)

Ngày 28

(T3)

Ngày 58

(T4)

n

%

n

%

n

%

n

%

Tăng cân

1(0,5)

2,7

3(1,2)

8,1

6(1,8)

16,2

10(2,6)

27,0

Không tăng cân

36

97,3

34

91,9

31

83,8

27

73,0

 

 

 

 

 

 

 

 

Đến thời điểm T4 có 20 NB tăng cân, mức độ tăng cân trung bình là 2,6±0,4 kg sau liệu trình điều tri. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu khác.

Bảng 3. Biểu hiện tăng đường huyết

                          Thời điểm

 

 

Đường huyết

Ngày 7

(T1)

Ngày 14

(T2)

Ngày 28

(T3)

Ngày 58

(T4)

n

%

n

%

n

%

n

%

Tăng đường huyết

0

0

1(1,2)

2,7

3(2,3)

8,1

7(2,6)

18,9

Không tăng

37

100

36

97,3

34

91,9

30

81,1

 

 

 

 

 

 

 

 

Thời điểm T1 không có NB nào có dấu hiệu tăng đường huyết. Ở cuối thời điểm nghiên cứu T4 có 11 NB có tăng đường huyết chiếm tỷ lệ 29,7%. Đa số NB không có thay đổi về đường huyết với 26 NB chiếm 70,3%.

IV. Bàn luận.

          Chúng tôi sử dụng thuốc ATK mới trong điều trị là Olanzapine. Chúng tôi chọn loại thuốc này do chúng tương đối sẵn có và giá thành vừa phải, phù hợp với khả năng kinh tế của đa số NB. Theo các tác giả Sadock B.J và StephenM, các thuốc ATK mới như Olanzapine đã chứng tỏ được hiệu quả tốt trong điều trị bệnh TTPL, đặc biệt là trên các triệu chứng âm tính.

Các tác giả trong nước như Nguyễn Kim Việt, Ngô Ngọc Tản cũng cho rằng thuốc ATK mới tỏ ra có hiệu quả hơn hẳn các thuốc ATK cổ điển trong điều trị các triệu chứng âm tính của TTPL [2][3].

Năm 2007, tác giả Lecrubier Y đã so sánh hiệu quả điều trị các triệu chứng âm tính giữa Olanzapine liều 5mg/ngày, Olanzapine liều 20 mg/ngày, Amisulprid liều 150mg/ngày trên 244 bệnh nhân TTPL có nhiều triệu chứng âm tính. Tác giả nhận thấy nhóm NB dùng Olanzapin liều 5mg/ngày cho hiệu quả điều trị triệu chứng âm tính tốt nhất.Theo tác giả HY Chan, CJ Chang, SC Chiang liều trung bình của Olanzapine trong nghiên cứu của tác giả là từ 7,7 mg đến 11,7 mg/ ngày [4].Theo tác giả Robert R.Conley, và Ramy Mahmoudliều của Olanzapine là từ 5- 20 mg/ ngày, trong đó có 19 NB dùng 5mg/ngày, 97 NB dùng 10 mg/ ngày, 35 NB dùng 15mg/ ngày, 38 NB dùng 20mg/ ngày, liều trung bình là 12,4 mg/ ngày [5]. So với nghiên cứu của chúng tôi thì liều dùng của hai tác giả trên còn thấp hơn (Bảng 3.8). Sự khác biệt về liều lượng này là do đối tượng nghiên của chúng tôi phần lớn là NB trong giai đoạn mãn tính, phải nằm viện điều trị nội trú, còn trong nghiên cứu của hai tác giả trên phần lớn đối tượng của họ là những NB nằm điều trị ngoại trú, tình trạng bệnh lý tương đối ổn định, nên liều dùng thuốc ATK ít hơn.

Bảng 2 cho thấy kết quả theo dõi về dấu hiệu tăng cân của nhóm nghiên cứu. Tại thời điểm T1 có 10 NB tăng cân, đến thời điểm T4 có 20 NB có dấu hiệu tăng cân chiếm 54,0%.

Tỉ lệ NB tăng cân trong nghiên cứu của chúng tôi cũng ngang bằng so với nhiều nghiên cứu khác. Theo tác giả Haya Ascher-Svanum, Michael Stensland, Zhongyun Zhao và Bruce J Kinon tỷ lệ tăng cân trong nghiên cứu của tác giả là 33.6% với mức tăng tối thiểu là 3% trọng lượng cơ thể, tương đương 4,6 kg [6]. Có sự khác biệt này một phần là trong nghiên cứu của tác giả, thời gian nghiên cứu dài hơn (8 tuần) và số lượng NB lớn hơn (1996 BN). Theo nghiên cứu của Michael Poyurovsky, Artashes Pashinian, Irit Gil-Adtrong số 30 NB tham gia nghiên cứu được sử dụng Olanzapine trong thời gian 8 tuần thì chỉ có 2 NB là không tăng cân, còn 28 NB tăng cân chiếm 93% [7]. Cũng theo tác giả Delbert G. Robinson, Margaret G. Woerner, Barbara Napolitanotrong nghiên cứu gồm có 112 NB dùng thuốc trong thời gian 4 tháng tỉ lệ tăng cân so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu là 17.3% đối với NB sử dụng Olanzapine và 11.3% đối với Risperidone [8]. Tỉ lệ trong nghiên cứu này cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi nhưng cao hơn không nhiều như những nghiên cứu khác. Tuy nhiên tăng cân ở NB TTPL còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như thói quen ăn uống không khoa học, lười vận động…nên chỉ số cân nặng thường tăng cao hơn so với quần thể bình thường. Kết quả trong nghiên cứu của tôi cũng thấp hơn so với nghiên cứu của JeffreyA. Lieberman, Gary Tollefson, Mauricio Tohen [9]. Trong nghiên cứu của các tác giả, với số lượng NB là 263 và thời gian điều trị nội trú trong giai đoạn cấp là 12 tuần, sau đó tác giả tiếp tục theo dõi đến thời điểm 104 tuần thấy kết quả là mức tăng cân trung bình cho đến khi kết thúc thời điểm nghiên cứu là 7,6 kg. Có sự thấp hơn về mức độ tăng cân trung bình này là do thời gian nghiên cứu của tác giả dài hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, trọng lượng cân nặng của người nước ngoài cao hơn người Việt Nam.

Bảng 3 cho kết quả về biến đổi đường huyết của nhóm nghiên cứu: Tại thời điểm T1 không có NB nào có thay đổi về đường huyết, đến thời điểm T4 có 11 NB tăng đường huyết (29,7%),

Từ khi thuốc ATK mới được sử dụng đã có rất nhiều nghiên cứu đánh giá về TDKMM của thuốc và tác dụng gây tăng đường máu cũng như là đái tháo đường đã được nghiên cứu nhiều. Theo tác giả David C. Henderson, Enrico Cagliero trong nghiên cứu về chuyển hoá đường ở NB TTPL sử dụng ATK không điển hình thấy tất cả NB sử dụng thuốc ATK như Olanzapine, Risperidone và Clozapine đều có sự rối loạn chuyển hoá đường, kháng Insulin nhưng cao nhất gặp ở Clozapine, sau đó đến Olanzapine và thấp nhất là Risperidone [10].Tỉ lệ đái tháo đường trong nghiên cứu của tác giả Daniel A Ollendorf, Amie T Joyce và Malcolm Rucke thấp hơn so với tỉ lệ tăng đường huyết của chúng tôi [11].Theo nghiên cứu của các tác giả Koller và cộng sự trong bài tổng kết của tác giả Caroline Cassels trong số những thuốc ATK không điển hình hai loại thuốc gây ra đái tháo đường cao hơn ở NB TTPL là Olanzapine và Risperidone [12].

Theo tác giả A.J. Scheen M.A., De Hert trong nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ đái tháo đường hoặc tình trạng tăng đường máu thấy rằng trong tổng số 415 NB TTPL thì đái tháo đường xuất hiện ở 12 NB, chiếm 2.9%, tăng đường máu khi đói xuất hiện ở 79 NB, chiếm 19%[13]. Trong nghiên cứu này tác giả cũng thấy rõ cả mối liên quan giữa thuốc ATK không điển hình và rối loạn chuyển hoá Glucose tuy nhiên tác giả cũng kết luận rằng không thể khẳng định chắc chắn là nguyên nhân gây tăng đường huyết là do thuốc ATK hay còn do yếu tố khác.

V. Kết luận.

1. Đặc điểm của nhóm nghiên cứu:

  • Tuổi hay gặp nhất là từ 60 - 64, chiếm 45,94%. Trong đó nam 15, chiếm 40,54% và nữ 2 chiếm 5,4%.
  • Tuổi khởi phát hay gặp nhất từ 20 - 29: 18 NB, chiếm 43,24%. Trong đó có 16 NB nam, chiếm 43,24% và 2 nữ, chiếm 5,4%.
  • Đa số NB không tuân thủ điều trị  (40,5%) và điều trị bằng ATK thế hệ 1 kéo dài chiếm tỷ lệ 45,9%.
  • NB bị bệnh từ 30 năm trở lên là 29, chiếm 78,38%. Thời gian bị bệnh trung bình của NB là 36,11± 7,11 năm.
  • Phần lớn NB đều có rối loạn về ăn uống với 29/37 NB (78,4%) và rối loạn giấc ngủ với 34/37 NB (91,9%).

2. Đặc điểm các tác dụng không mong muốn gặp ở NB sử dụng Olanzapine.

  • 86,5% NB sử dụng Olanzapine liều 10 – 20 mg/ngày; 13,5% NB sử dụng liều <10 mg Olanzapine/ngày
  • Thời điểm xuất hiện các tác dụng không mong muốn chủ yếu xảy ra ở ngày 28 đến 58 (T3 đến T4) của liệu trình điều trị.
  • Gặp nhiều nhất là tăng cân: 20 NB (54%),
  • Tăng đường huyết có 11 NB (29,7%)
  • Rối loạn tim mạch: 6 NB (16,2%), trong đó chủ yếu là tăng nhịp tim (13,5%).
  • Bồn chồn bất an: 3 NB, chiếm 8,1%
  • Loạn trương lực cơ cấp: 2 NB, chiếm 5,4%
  • Trạng thái giống Parkinson: 2 NB, chiếm 5,4%
  • Tăng huyết áp: 1 NB, chiếm 2,7%. Không có NB nào hạ huyết áp.
  • Phần lớn các tác dụng không mong muốn này đều ở mức độ nhẹ, không cần phải xử trí và can thiệp trên lâm sàng

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Kaplan H.I. (1994) Kaplan and Sadock's Synopsis of Psychiatry. Behavioural Sciences/Clinical Psychiatry, 7th edn. By H. I. Kaplan, B. J. Sadock and J. A. Grebb (Pp. 1257; illustrated.) Williams & Wilkins: Baltimore.

2. Nguyễn Kim Việt (2003). Bệnh tâm thần phân liệt.Tâm thần học.Nhà xuất bản Y học.

3. Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân (2005),Tâm thần phân liệt”, Bệnh học tâm thần, Giáo trình giảng dạy sau đại học,Nxb. Quân đội nhân dân, tr. 177-214.

4. Chan HY, Chang CJ,  Chiang SC et al (2010) A randomized controlled trial of risperidone and olanzapine for schizophrenic patients with neuroleptic-induced tardive dyskinesia.J Clin Psychiatry. 71(9) :1226-33

5.R.Conley, Ramy Mahmoud (2001) A Randomized Double-Blind Study of Risperidone and Olanzapine in the Treatment of Schizophrenia or Schizoaffective Disorder. Am J Psychiatry. 158:765–774

6.Haya Ascher-Svanum, Michael Stensland et al (2005). Acute weight gain, gender, and therapeutic response to antipsychotics in the treatment of patients with schizophrenia.BMC Psychiatry.

7.Michael Poyurovsky, Artashes Pashinian et al (2002). Olanzapine-Induced Weight Gain in Patients With First-Episode Schizophrenia: A Double-Blind, Placebo-Controlled Study of Fluoxetine Addition. Am J Psychiatry. 159:1058–1060

8.Delbert G.R, Margaret G.W et al (2006). Randomized Comparison of Olanzapine Versus Risperidone for the Treatment of First-Episode Schizophrenia: 4-Month Outcomes.Am J Psychiatry. 163:2096–2102

9.A.J. Scheen M.A., De Hert (2007). Abnormal glucose metabolism in patients treated with antipsychotics. Diabetes Metab. 33(3):169-75.

10. David C. H, Enrico C (2007).Elevated Hemoglobin A1c as a Possible Indicator of Diabetes Mellitus and Diabetic Ketoacidosis in Schizophrenia Patients Receiving Atypical AntipsychoticsThe Journal of Clinical Psychiatry 68(4):533-41.

11. Daniel A.O, Amie T.Jet al (2004) Rate of New-Onset Diabetes Among Patients Treated With Atypical or Conventional Antipsychotic Medications for Schizophrenia. MedGenMed.6(1): 5

12. Koller et al (2018). Study suggests that use of olanzapine or quetiapine during pregnancy is linked with development of gestational diabetes.American Journal of Psychiatry

13. A.J. Scheen M.A., De Hert (2007). Abnormal glucose metabolism in patients treated with antipsychotics. Diabetes Metab. 33(3):169-75

 

 

 

Bình luận

Tin tức mới