Logo

PHÂN TÍCH LÂM SÀNG RỐI LOẠN TÂM THẦN DO SỬ DỤNG CẦN SA Ở NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ

  06/09/2019

 

                                                                              Tiến sỹ. bác sỹ. Nguyến Văn Tuấn

                                                                               Khoa Điều trị bệnh lạm dụng chất và các loạn thần thực thể (Khoa H) - Bệnh viện Tâm thần Hà Nội

TÓM TẮT

Nghiên cứu ba ca lâm sàng rối loạn tâm thần do sử dụng cần sa bằng phương pháp phân tích lâm sàng cho thấy hình ảnh lâm sàng rối loạn tâm thần ở mỗi trường hợp khác nhau: giống rối loạn cảm xúc lưỡng cực có triệu chứng loạn thần; giống tâm thần phân liệt; giống loạn thần cấp với hoang tưởng chiếm ưu thế. Rối loạn tâm thần liên quan chặt chẽ với liều, tần suất sử dụng cần sa, nặng lên khi tăng liều, tăng tần suất sử dụng. Sử dụng cần sa tổng hợp gây loạn thần mạnh hơn cần sa tự nhiên, triệu chứng loạn thần chủ yếu là hoang tưởng.

SUMMARY

We herein report three cases of patients with psychiatric disorders due to cannabis consumption, using the clinical analysis method, showing the clinical views of psychosis disorders in each case: similar to bipolar disorders with psychosis symptoms, schizophrenia, or acute psychotic disorders with paranoia predominantly. Psychosis disorders are closely related to the dose, frequency of cannabis spending and more seriously when increasing the dosage and the frequency of use. Psychosis disorders associated with synthetic cannabis consumption are severe than those arising from natural cannabis use, in which delusion is a major psychosis symptom.

ĐĂT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, số lượng người bệnh (NB) rối loạn tâm thần (RLTT) do sử dụng ma túy nói chung, cần sa nói riêng điều trị tại các bệnh viện Tâm thần tăng lên, các đối tượng có xu hướng sử dụng chủ yếu cần sa tống hợp.

Tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, số lượng NB RLTT do sử dụng cần sa vào điều trị nội trú tăng lên rõ rệt. RLTT do sử dụng cần sa có những đặc điểm chung và khác biệt so với RLTT do sử dụng ma túy khác.

Mô tả, phân tích hình thái biểu hiện lâm sàng RLTT do sử dụng cần sa về phát sinh, biểu hiện toàn phát, tiến triển ở từng trường hợp giúp ích cho công tác chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn. Phân tích một số nhân tố thuận lợi cho hành vi sử dụng cần sa giúp cho dự phòng và điều trị chống tái phát hiệu quả hơn.

Chính vì vậy, chúng tôi chọn “Phân tích lâm sàng rối loạn tâm thần do sử dụng cần sa ở người bệnh điều trị nội trú” làm đề tài nghiên cứu với mục tiêu:

1. Phân tích lâm sàng một số trường hợp rối loạn tâm thần do sử dụng cần sa điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội.

2. Phân tích một số nhân tố thuận lợi sử dụng cần sa của một số trường hợp rối loạn tâm thần do sử dụng cần sa điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

1. Đối tượng nghiên cứu.

 Đối tượng gồm ba người bệnh RLTT do sử dụng cần sa điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội. Thời gian nghiên từ 02/2018 đến 10/2018.

2. Phương pháp nghiên cứu.

+ Thiết kế nghiên cứu: phân tích lâm sàng từng trường hợp (case study).

+ Tiêu chuẩn chọn mẫu nghiên cứu: có bằng chứng rõ ràng NB sử dụng cần sa tự nhiên và cần sa tổng hợp trong vòng hai tuần.

+ Tiêu chuẩn loại trừ: có bệnh tâm thần trước sử dụng cần sa; có bệnh nội khoa nặng trước sử dụng cần sa; dữ liệu NB và thân nhân cung cấp không đủ hoặc thiếu tin cậy. Thời gian theo dõi nghiên cứu không đủ.

+ Phương pháp thu thập thông tin:

- Công cụ nghiên cứu: Tiêu chuẩn chẩn đoán sử dụng cần sa và rối loạn tâm thần do sử dụng cần sa theo ICD.10; Trắc nghiệm Zung, trắc nghiệm Beck; Bệnh án nghiên cứu chuyên biệt.

- Kỹ thuật thu thập thông tin: Hỏi bệnh người bệnh và thân nhân người bệnh; Khám bệnh; Làm các xét nghiệm cận lâm sàng và trắc nghiệm tâm lý.

+ Số liệu nghiên cứu gồm toàn bộ các số liệu của hồ sơ nghiên cứu ba người bệnh rối loạn tâm thần do sử dụng cần sa.

+ Biến số, chỉ số nghiên cứu:

- Biến số độc lập: Tuổi, giới, nghề nghiệp…

- Mục tiêu 1: Các biến số, chỉ số về đặc điểm khởi phát, toàn phát, tiến triển các triệu chứng rối loạn tâm thần được phân tích lâm sàng.

- Mục tiêu 2: Các chỉ số, biến số về nhân tố thuận lợi sử dụng cần, được phân tích lâm sàng.

+ Xử lý số liệu: số liệu được thu thập, phân tích ghi chép trong hồ sơ nghiên cứu theo một quy trinh thống nhất. Phân tích đa chiều về lâm sàng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Ca lâm sàng 1.

Người bệnh nam 26 tuổi (1993), nơi ở Hoàng Mai – Hà Nội, con 2/2 trong gia đình, dân tộc kinh, nghề tự do, đã kết hôn có 01 con khỏe mạnh. NB là con trai duy nhất và là cháu đích tôn, được bố, mẹ, ông, bà và cả họ chiều chuộng từ bé, đòi hỏi gì thường được đáp ứng. Hay tụ tập bạn bè, luôn cho mình là nhất mọi người phải tuân theo. Không có tiền sử bệnh thực thể não. Ba đời nội, ngoại không ai bị rối loạn tâm thần hay động kinh. Bố, me, chị và những người sống cùng không ai nghiện rượu, ma túy.

+ Lý do vào viện: Gây hấn vô cớ.

+ Quá trình bệnh và điều trị: NB bắt đầu sử dụng cần sa tổng hợp “Cỏ Mỹ”các đây 3 năm (2015), mới đầu sử dụng tháng vài lần cùng nhóm bạn, hút như thuốc lá, sau vài tháng tăng lên tuần 1 đến 2 lần, có đủ dấu hiệu nghiện cần sa. 2016, NB sử dụng cần sa hàng ngày, mỗi ngày vài lần.

Quá trình rối loạn tâm thần: Cuối 2016, NB có biểu hiện RLTT: cáu gắt, cảm xúc hưng phấn, hoạt động nhiều. 4/2017 RLTT toàn phát với biểu hiện chủ yếu hội chứng hưng cảm điển hình, bỏ công việc. 5/2017 có thêm hoang tưởng bị hại, đập phá đồ đạc, gây hấn với người xung quanh. 6/2017, điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội (BVTT HN) bằng Seroquel XR 600mg/24h, sau 2 tuần, bệnh tạm ổn định, gia đình xin ra viện, chẩn đoán F12.2. Ra viện một tuần NB sử dụng lại cần sa tổng hợp, bệnh tái phát nhanh với hội chứng hưng cảm điển hình, hoang tưởng bị hại, hoang tưởng tự cao, chửi bới, đập phá vô cớ. NB được điều trị tại BVTT HN hơn 1 tháng bằng Seroquel XR 600 mg/24h, với chẩn đoán F12.55. Ra viện điều trị ngoại trú Seroquel XR 400 mg/24h bệnh ổn định, NB không sử dụng cần sa.

01/2018, NB sử dụng lại “cỏ Mỹ” liều tăng rất nhanh, 4-8 gam/24h. Cuối 01/2018, NB RLTT với biểu hiện hội chứng hưng cảm điển hình, không ảo giác hoang tưởng. NB đã được điều trị tại BVTT HN bằng Seroquel XR liều 600 mg/24h, bệnh thuyên giảm nhanh, ra viện chẩn đoán F12.55.

2. Ca lâm sàng 2.

Người bệnh nam 18 tuổi (2000), nơi ở Hà Đông – Hà Nội, con 1/2 trong gia đình, sinh ra, lớn lên bình thường về thể chất, tâm thần. Bố, mẹ chết từ khi người bệnh còn nhỏ, người bệnh được ông, bà nội nuôi dưỡng, thiếu sự quan tâm. Tính tình “ngang ngạnh” ít tuân thủ quy định của nhà trường, gia đình hay tụ tập bạn bè chơi bời. Không cớ tiền sử bệnh thực tổn não. Chưa kết hôn.

Ba đời nội, ngoại không ai bị rối loạn tâm thần hay động kinh, không ai nghiện ma túy, rượu.

+ Lý do vào viện: Lo âu, hoảng sợ vô cớ.

+ Quá trình bệnh và điều trị: NB bắt đầu sử dụng cần sa tổng hợp “Cỏ Mỹ” từ đầu 2018, tháng sử dụng 1 đến 2 lần, chưa có dấu hiệu nghiện cần sa. Sau vài tháng, NB sử dụng cần sa tổng hợp tuần 1 đến 2 lần, mỗi lần 1 đến 2 gam. Tháng 6/2018, NB sử dụng cần sa tổng hợp hàng ngày, sử dụng 2 đến 4 gam đến “phê”, NB có dấu hiệu nghiện cần sa.

Đầu năm 2018, NB có biểu hiện RLTT: lo âu, cáu giận thoáng qua trong ngày, sau sử dụng cần sa tổng hợp và tự hết. Tháng 8/2018, RLTT biểu hiện rõ rệt: mất ngủ; lo âu sợ hãi, hoảng sợ; hoang tưởng bị theo dõi (nhóm người theo dõi mình bằng sóng điện từ), hoang tưởng bị hại; trốn, la hét thưởng trong đêm… Tháng 9/2018, NB điều trị tại BVTT HN, khám thấy biểu hiện trên, kèm theo cảm xúc thiếu hòa hợp, điệu bộ dị kỳ, khó hiểu, đôi lúc gây hấn vô cớ, chạy trốn. NB điều trị bằng Haloridol, Queitoz đều dung nạp kém, triệu chứng RLTT không giảm. NB đã được chuyển điều trị Nesulix 600 mg/24h kết hợp Tisercin 50 mg/24h. Sau một tháng, tình trạng RLTT thuyên giảm, hết hoang tưởng, còn tồn tại: cảm xúc thiếu hòa hợp, tư duy tự kỷ, hành vi dị kỳ, các triệu chứng này thuyên giảm và biểu hiện kín đáo hơn. Ra viện NB tiếp tục được điều trị ngoại trú bằng Nesulix và Tisercin liều trên.

Chẩn đoán: Loạn thần do sử dụng cần sa, giống tâm thần phân liệt (F12.50).

3. Ca lâm sàng 3.

+ Tiền sử: NB nam, 18 tuổi (2000), dân tộc kinh, nơi ở Hoàn Kiếm – Hà Nội. NB là con 1/2 trong gia đình, sinh ra, lớn lên bình thường về thể chất, tâm thần; bố và mẹ ít quan tâm chăm sóc. Tính tình nóng nảy; hay tụ tập chơi bời

Mẹ để rối loạn tâm thần điều trị bác sỹ tư không rõ chẩn đoán gì. Bố, mẹ, người thân sống cùng người bệnh không ai nghiện rượu, ma túy.

+ Quá trình bệnh và điều trị: NB sử dụng cần sa tự nhiên từ năm 15 tuổi, tháng vài lần. 16 tuổi, NB sử dụng cần sa tự nhiên tăng lên, tuần 1 – 2 lần, ngày hút 2 - 3 điếu quấn sau kèn. 17 tuổi, NB sử dụng cần sa tự nhiên hàng ngày 2 đến 4 điếu. Đầu năm 2018, sử dụng cần sa tự nhiên hàng nngày và kết hợp cần sa tổng hợp tuần 1 - 2 lần. Tháng 7 và 8/2018, NB sử dụng chủ yếu cần sa tổng hợp, sử dụng hàng ngày 2 đến 4 gam hút như thuốc lá.

Đầu 2017 (17 tuổi), NB RLTT với biểu hiện: mất ngủ, lo âu, hoảng sợ, hoang tưởng bị theo dõi bị hại, đôi lúc la hét, gây hấn, đập phá vô cớ. Điều trị phòng khám tư thuốc gì không rõ, bệnh thuyên giảm. Tháng 7/2018, NB RLTT nặng lên với biểu hiện: mất ngủ; hoang tưởng bị theo dõi, bị hại; ảo thanh đàm thoại, lo âu, cơn hoảng sợ, la hét, chạy trốn thường về đêm; chửi bới, đập phá đồ đạc, đánh người thân vô cớ. Tháng 8/2018, NB điều trị tại BVTT HN, vào viện với biểu hiện trên. NB được điều trị bằng Seroquel XR 400 mg/24h tình trạng RLTT thuyên giảm nhanh. Sau hơn một tháng hết hoang tưởng, cảm xúc hành vi ổn định. NB ra viện, tiếp tục điều trị ngoại trú Seroquel XR 400 mg/24h.

Chẩn đoán: Loạn thần do sử dụng cần sa hoang tưởng chiếm ưu thế (F12.51).

PHÂN TÍCH LÂM SÀNG VÀ BÀN LUẬN

1. Ca lâm sàng 1.

Đầu 2015, khi NB sử dụng cần sa tổng hợp liều thấp, tần, mới lạm dụng chưa nghiện. Có thể tác dụng dược lý của cần sa chưa đủ gây RLTT.

Năm 2016, NB đã sử dụng cần sa tổng hợp với liều lượng cao hơn, NB đã có đủ dấu hiệu nghiện. Bắt đầu, tác dụng dược lý cấp của cần sa tổng hợp trên nền ngộ độc mạn gây RLTT với biểu hiện là triệu chứng hưng cảm thoáng qua.

Năm 2017, NB sử dụng cần sa tổng hợp liều tăng lên (2-4g/24h). NB đã nghiện cần sa tổng hợp rõ rệt: tăng dung nap, buộc phải sử dụng, bỏ công việc vì sử dụng cần sa.... Biểu hiện lâm sàng RLTT rõ rệt với hội chứng hưng cảm điển hình. RLTT có thể do mức độ nhiễm độc cấp và mạn cần sa cao hơn và dài hơn, tuy nhiên chưa gây hoang tưởng, ảo giác. Hội chứng hưng cảm đã gây ảnh hưởng rõ đến cuộc sống của NB. Hội chứng này không có nguyên nhân thực tổn, không có yếu tố gia đình. Tháng 4/2017, NB sử dụng cần sa tổng hợp liều cao (4-8g/24h). NB RLTT rõ rệt với hội chứng hưng cảm điển hình, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động của NB, đến tháng 5/2017, NB xuất hiện thêm hoang tưởng bị hại, hoang tưởng tự cao, chửi bới, đập phá đồ đạc, gây hấn. Có thể khi sử dụng cần sa liều cao gây nhiễm độc cấp và mạn mức độ cao hơn, gây tình trạng RLTT và loạn thần. Như vậy, hội chứng hưng cảm và loạn thần liên quan chặt chẽ với liều và thời gian sử dụng cần sa tổng hợp. Tháng 6/2017, NB dừng sử dụng cần sa tổng hợp và điều trị Seroquel XR 600 mg/24h, RLTT ổn định nhanh. NB khi dừng sử dụng cần sa tổng hợp, không có biểu hiện RLTT dù đã dừng điều trị một thời gian dài.

Tháng 01/2018, NB sử dụng lại cần sa, bệnh tái phát nhanh với biểu hiện hội chứng hưng cảm điển hình và được điều trị sớm. Có lẽ chính vì thời gian sử dụng cần sa chưa dài nên chưa có triệu chứng loạn thần. Khi dừng sử dụng cần sa và điều trị, tình trạng hưng cảm nhanh thuyên giảm, ổn định.

Như vậy, cả quá trình rối loạn tâm thần của NB biểu hiện hình ảnh lâm sàng giống như giai đoạn hưng cảm và giai đoạn hưng cảm nặng có triệu chứng loạn thần ở rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Triệu chứng loạn thần là hoang tưởng, không có ảo giác. Biểu hiện RLTT của NB liên quan chặt với liều và tần suất sử dụng cần sa tổng hợp.

Theo Sebastien rối loạn tâm thần do sử dụng cần sa biểu hiện với giai đoạn hưng cảm có triệu chứng loạn giống rối loạn cảm xúc lưỡng cực là triệu chứng thường gặp. Biểu hiện RLTT của NB này phù hợp với Sebastien và một số tác giả Blecha L và Benyamina A; Spinelli E. Đa số y văn cho rằng cần sa tự nhiên gây ảo giác nhiều hơn hoang tưởng, có thể cần sa tổng hợp gây hoang tưởng nhiểu hơn? Theo một số tác giả như Banister S.D; Borodovsky JT và Budney AJ; Brents Lisa K; Diao X và Huestis MA: loạn thần do sử dụng cần sa tổng hợp chủ yếu là hoang tưởng. Triệu chứng loạn thần của NB này phù hợp với các tác giả trên.

2. Ca lâm sàng 2.

Đầu 2018, NB sử dụng cần sa tổng hợp liều thấp, tác dụng dược lý và nhiễm độc chưa đủ nên NB chưa đủ gây RLTT. Tháng 6/2018, NB sử dụng cần sa tổng hợp liều cao hơn. NB xuất hiện lo âu, cáu giận thoáng qua sau sử dụng. Có thể triệu chứng này do tác dụng dược lý của cần sa tổng hợp gây lên. Tháng 8/2018, NB tiếp tục sử dụng cần sa với liều trên. NB xuất hiện RLTT nặng hơn: Hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng bị hại, cảm xúc lo âu, hoảng sợ, chạy trốn, la hét trong đêm. Hoang tưởng bị theo dõi mang mầu sắc kỳ dị, biểu hiện triệu chứng phân liệt. Dù liều sử dụng không tăng nhưng có lẽ sử dụng kéo dài, đủ nhiễm độc mạn tính gây tình trạng loạn thần.

Giai đoạn nhập viện (18/9/2018), ngoài những triệu chứng trên phát hiện một số triệu chứng phân liệt: cảm xúc thiếu hòa hợp, hành vi dị kỳ. NB đáp ứng kém với một số thuốc chống loạn thần, các triệu chứng loạn thần, RLTT chỉ thuyên giảm sau khi kết hợp thuốc chống loạn thần.

Như vậy, RLTT của NB liên quan đến liều và thời gian sử dụng cần sa tổng hợp. Hình thái lâm sàng về triệu chứng giống tâm thần phân liệt.

Theo một số tác giả RLTT do sử dụng cẩn sa có biểu hiện giống tâm thần phân liệt chiếm tỷ lệ khá cao, như Dervaux Alain M; Moreau de Tours cho rằng tỷ lệ này chiếm 44,5%, Sebastien cho rằng tỷ lệ này khoảng trên 30%. Hình ảnh lâm sàng RLTT ở trường hợp này có hình ảnh giống tâm thần phân liệt như một số tác giả trên.

3. Ca lâm sàng 3.

Năm 2015, NB dùng cần sa tự nhiên mới chỉ là lạm dụng, chưa có RLTT. Có thể tác dụng dược lý của cần sa chưa đủ gây RLTT. Năm 2016, NB đã nghiện cần sa. Tuy nhiên, có thể nhiễm độc cần sa tự nhiên đủ mạnh để gây RLTT rõ rệt.

Đầu năm 2017, NB sử dụng cần sa gấp đôi so với năm 2016, NB xuất hiện lo âu, chưa có dấu hiệu loạn thần. Có thể lo âu do ngộ độc cấp và ngộ độc mạn tính cần sa gây nên. Tháng 7/2017, sử dụng cần sa liều cao sau thời gian dài, NB có biểu hiện RLTT toàn phát: cảm xúc lo âu, đôi lúc hoảng sợ, hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng bị truy hại, la hét, đập phá vô cớ. Khi dừng sử dụng cần sa và điều trị, các triệu chứng RLTT thuyên giảm nhanh. Như vậy, RLTT khởi phát, toàn phát, thuyên giảm, ổn định liên quan chặt chẽ với liều, thời gian sử dụng cần sa.

Tháng 01/2018, NB tái sử dụng cần sa tự nhiên và kết hợp cần sa tổng hợp. Xuất hiện: lo âu thoáng qua. Lo âu có thể do tác dụng dược lý cấp của cần sa tự nhiên và tổng hợp gây nên. Tháng 7/2018, NB sử dụng cần sa tổng hợp liều cao hàng ngày, xuất hiện loạn thần cấp toàn phát nhanh: hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng bị truy hại, cảm xúc lo âu, hoảng sợ về đêm, đập phá đồ đạc, tấn công... Có thể do tác dụng dược lý cấp và ngộ độc mạn tính cần sa tổng hợp gây lên. Tình trạng loạn thần ngày càng năng, xuất hiện thêm ảo thanh đàm thoại. Khi dừng sử dụng cần sa và điều trị chống loạn thần tình trạng loạn thần thuyên giảm nhành và hoàn toàn hết sau khoảng một tháng.

Như vậy, loạn thần cấp khởi phát, toàn phát, thoái lui và ổn định quan hệ chặt chẽ với liều sử dụng cần sa tổng hợp. Hoang tưởng, ảo giác nặng lên theo thời gian và liều sử dụng cần sa.

Đa số tác giả như Banister S.D; Borodovsky JT và Budney AJ; Brents Lisa K; Diao X và Huestis MA; Riederer A.M, cho rằng cần sa tự nhiên gây ảo giác, còn cần sa tổng hợp gây hoang tưởng nhiều hơn. Biểu hiện lâm sàng của NB này, phù hợp với các tác giả trên.

Theo đa số các tác giả triệu chứng lo âu, hoảng sợ thường gặp ở các trường hợp ngộ độc cần sa. Biểu hiện lo âu, hoảng sợ ở NB này phù hợp với nghiên cứu của nhiều tác giả, như: Dervaux Alain M; Fantegrossi William E; Feingold D; Metrik J; Mandolini GM.

NHÂN TỐ THUẬN LỢI SỬ DỤNG VÀ DUY TRÌ SỬ DỤNG CẦN SA

1. Một số nhân tố liên quan và thuận lợi chung.

Ba người bệnh đều là thanh niên trẻ, không nghề nghiệp ổn định, quản lý về thời gian học tập, sinh hoạt ít được gia đình quan tâm, thiếu sự định hướng lối sống, bạn bè. Những điều kiện này làm các NB dễ bị lôi cuốn vào lối sống mới thiếu lành mạnh và hình thành tính cách tự do, vô kỷ luật, hạn chế trong chấp hành nội quy của gia đình, nhà trường, xã hội, tạo điều kiện thành nhóm có lối sống buông thả, nhóm sử dụng cần sa và ma túy. Mặt khác, gia đình không quản lý tiền và việc sử dụng tiền của NB cũng tạo điều kiện cho việc sử dụng tiền ”ăn chơi lêu lổng”, trong đó dùng để sử dụng ma túy.

2. Nhân tố riêng của mỗi NB.

Đối với ca lâm sàng 1, NB được cả gia đình nhỏ và cả gia đình lớn coi là số một. NB được nuôi dưỡng chiều chuộng theo nghĩa ”muốn gì được đó”. Sự ”nuông chiều” này khiến NB hình thành tính cách coi mình là trung tâm, mọi người phải đáp ứng, hình thành tính cách bất tuân nội quy, dễ dàng được bỏ qua lỗi, thiếu sự phê phán. Cấu trúc tâm lý gia đình, khiến hầu hết các thành viên tự nguyện coi NB phạm lỗi như là bình thưởng, hạn chế sự đối mặt với các sai trái của NB. Điều này hình thành nên tính cách tự do, chơi bời và vi phạm như một quyền riêng của NB, tạo điều kiện thuận lợi cho sử dụng cần sa.

Ở ca lâm sàng thứ hai, NB thiếu bố, mẹ được nuôi dưỡng bởi ông, bà. Ông, bà hiểu về giáo dục, quản lý hạn chế, hầu như chỉ nuôi dưỡng ăn, uống cho NB. NB thiếu thốn tình cảm, sự quan tâm dẫn đến sự cô đơn, dễ tìm đến tình cảm ở ”băng nhóm” nơi NB có thể chia sẻ vơi đi sự cô đơn. Nhóm bạn có thể như nơi trú ngụ ”tâm hồn” của NB, điều này kết hợp với thiếu giáo dục định hướng, dễ tạo điều kiện và duy trì sử dụng cần sa.

Ở ca lâm sàng ba, mẹ NB rối loạn tâm thần dẫn đến NB một mặt thiếu thốn sự chăm sóc, chia sẻ của tình mẫu tử. Bố NB ít thời gian chăm sóc NB vì còn lo kiếm sống. Kinh tế gia đình của NB khá giả, thiếu kiểm soát về thời gian, dẫn đến NB dễ tìm đến nơi bạn bè để chia sẻ, để lấp đi thiếu thốn về tình cảm. Tất cả những nhân tố này thuận lợi để NB đến với nhóm bạn chơi bời, nghiện ma túy.

KẾT LUẬN

1. Biểu hiện lâm sàng rối loạn tâm thần do sử dụng cần sa khá đa dạng với ba hình ảnh lâm sàng khác nhau: Giai đoạn hưng cảm điển hình và giai đoạn hưng cảm có triệu chứng loạn thần, giống giai đoạn hưng cảm ở rối loạn cảm xúc lưỡng cực; Rối loạn tâm thần và loạn thần giống tâm thần phân liệt; Rối loạn tâm thần giống loạn thần cấp với triệu chứng hoang tưởng bị theo dõi, bị hại và lo âu, hoảng sợ nổi bật. Sử dụng cần sa tổng hợp gây loạn thần chủ yếu là hoang tưởng. Chỉ một trường hợp có ảo thanh, tuy nhiên ít chi phối cảm xúc, hành vi.

2. Một số nhân tố thuận lợi cho sử dụng và nghiện cần sa là: thiếu sự quản lý của gia đình về thời gian học tập, sinh hoạt; thiếu phương pháp giáo dục và định hướng quan hệ. Thiếu sự quản lý về tiền bạc của gia đình. Không nghề hoặc lao động tự do không có tổ chức quản lý. Thiếu thốn tình cảm và sự quan tâm của bố, mẹ cũng là nhân tố thuận lợi cho sử dụng và nghiện cần sa. Ngược lại, sự quan tâm quá mức không phù hợp định hình nét nhân cách: cho mình là trung tâm, thiếu tôn trọng kỷ luật, cũng là nhân tố thuận lợi cho sử dụng cần sa. Các nhân tố này là điều kiện thuận lợi cho sử dụng, duy trì và tái sử dụng cần sa.

Tài liệu tham khảo

1. Blecha L et Benyamina A (2009). Cannabis et troubles psychotiques. L'information psychiatrique, 2009/7 (Volume 85), 90.

2. Borodovsky JT and Budney AJ (2018). Cannabis regulatory science: risk-benefit considerations for mental disorders. Int Rev Psychiatry, 2018 May, 29, 1-20.

3. Buckner JD et al (2018). The impact of PTSD clusters on cannabis use in a racially diverse trauma-exposed sample: An analysis from ecological momentary assessment. Am J Drug Alcohol Abuse, 44(5),532-542.

4. Dervaux Alain M. (2010). Influence de la consommation de substances sur l’émergence et l’évolution des troubles psychotiques: le cas du cannabis. La these doctotraie, Universite Pierre et Marie Curie - Paris VI, Paris, France.

5. Feingold D et al (2018). Clinical and functional outcomes of cannabis use among individuals with anxiety disorders: A 3-year population-based longitudinal study. Depress Anxiety, 35(6), 490-501.

6. Kaplan H.I and Sadock B.J (2007). Substance-Related Disorders, Psychotherapies, Biological Therapies. Synopsis of Psychiatry: Behavioral Sciences/Clinical Psychiatry, Tenth Edition, New York. 381 – 464, 924 – 971, 976 – 1124.

7. Mandolini GM et al (2018). Pharmacological properties of cannabidiol in the treatment of psychiatric disorders: a critical overview.  Epidemiol Psychiatr Sci, ;27(4), 327-335.

8. Moreau de Tours J (1980). Du haschich ou de laliénation mentale. Étude psychologique, Collection "ESQUIROL", Masson 1845, Paris, France.

9. Robert E et al (2014). Substance-Related and Addictive Disorders. The Americain Psychiatric Publishing Textbook of Psychiatry, 6 th DSM-5 Edition, Bristish Library, USA, 735 – 814.

10. Sebastien (2011). Cannabis, psychoses affectives et dépressions endogènes et troubles bipolaires. Ecyclopédie du Cannabis Médical, Avril 27,2011, Paris, France.

 

 

Bình luận

Tin tức mới