Logo

RỐI LOẠN STRESS SAU SANG CHẤN (POSTTRAUMATIC STRESS DISORDER – PTSD)

  11/09/2017

RỐI LOẠN STRESS SAU SANG CHẤN

(POSTTRAUMATIC STRESS DISORDER – PTSD)

BS. Vũ Ngọc Úy

1. Khái niệm:

Rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) là rối loạn phát sinh như một đáp ứng trì hoãn và/hoặc kéo dài đối với sự kiện hoặc hoàn cảnh gây sang chấn (hoặc ngắn hoặc kéo dài) có tính chất đe dọa tính mạng hoặc thảm họa đặc biệt.

2. Dịch tễ:

- Theo Sadock (2015), tỷ lệ mắc PTSD trong đời khoảng 9-15%. Trong đó, tỷ lệ mắc trên các cựu chiến binh Mỹ ở chiến trường Việt Nam khoảng 30%, cựu binh Mỹ ở Iraq và Afghanistan là 13%. Tỷ lệ mắc ở phụ nữ cao hơn nam giới (10-12% ở nữ và 5-6% ở nam). Rối loạn này thường xảy ra ở người trẻ, độc thân, góa bụa, sống cách ly xã hội và có điều kiện kinh tế xã hội thấp.

- Theo Hội tâm thần học Mỹ (2013), tỷ lệ PTSD ở người trưởng thành trong 12 tháng là 3,5%. Tỷ lệ này ở Châu Âu, hầu hết các nước châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh khoảng 0,5-1,0%.

3. Bệnh nguyên, bệnh sinh:

3.1. Bệnh nguyên:

- Yếu tố sang chấn: Là yếu tố gây bệnh chính trong PTSD. Yếu tố sang chấn phải đủ mạnh đe dọa tính mạng như:

+ Thảm họa thiên nhiên hoặc do con người gây ra.

+ Trận chiến đấu xảy ra trong xung đột hoặc chiến tranh.

+ Tai nạn nặng nề.

+ Bị tra tấn, hãm hiếp, khủng bố hoặc các tội ác khác.

Người bệnh có thể là nạn nhân trực tiếp hoặc là người chứng kiến. 

- Yếu tố nguy cơ:

Theo thống kê có 60% nam giới và 50% nữ giới đã từng trải qua stress đủ lớn nhưng chỉ có trung bình khoảng 8% tiến triển thành PTSD trong đời. Như vậy, có sự liên quan giữa mức độ sang chấn và mức độ đáp ứng với sang chấn của từng cá nhân. Các cá nhân có nguy cơ bị PTSD:

+ Tiền sử bị sang chấn từ nhỏ.

+ Có nét rối loạn nhân cách paranoid, nhân cách ranh giới, nhân cách phụ thuộc và nhân cách chống đối xã hội.

+ Không có gia đình hoặc hệ thống hỗ trợ đồng đẳng.

+ Là phụ nữ.

+ Có yếu tố di truyền bệnh tâm thần.

+ Gần đây cuộc sống có nhiều thay đổi căng thẳng.

+ Gần đây sử dụng rượu nhiều.

3.2. Bệnh sinh:

Nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy các hệ thống Noradrenalin, hệ thống opioid nội sinh, trục hạ đồi-tuyến yên-thượng thận có liên quan đến PTSD. Một số nghiên cứu chỉ ra có sự tương đồng giữa PTSD với trầm cảm và rối loạn hoảng sợ. Các phát hiện khác cho thấy sự gia tăng hoạt động của hệ thống thần kinh thực vật dẫn đến tăng nhịp tim, tăng huyết áp, vã mồ hôi và rối loạn giấc ngủ.

- Khi có PTSD người ta nhận thấy có tăng bài tiết các hormon cathecolamin và cortisol dẫn tới rối loạn thần kinh thực vật như tăng huyết áp, mạch nhanh, tăng nhịp thở…

- Trong PTSD có sự tăng tiết norepinephrin và epinephrin gây các triệu chứng tăng cảnh giác.

- Khi bị PTSD có sự giảm nồng độ serotonin trên một số vùng não nhất định. Ngoài ra, người ta còn nhận thấy sự bất thường của hệ thống opioid nội sinh biểu hiện bằng giảm nồng độ β-endorphin trong não.

4. Lâm sàng:

Đặc điểm lâm sàng: Có 04 nhóm triệu chứng lâm sàng của PTSD

4.1. Tái diễn, hồi tưởng những trải nghiệm sự kiện sang chấn:

- Những sự kiện sang chấn tái hiện lại bất cứ lúc nào, bệnh nhân cảm thấy sợ hãi giống như khi trải qua sang chấn, ví dụ:

+ Có ác mộng.

+ Có các cảnh hồi tưởng (flashback).

+ Bệnh nhân có thể tái diễn các triệu chứng khi bị sang chấn bởi một tác nhân kích hoạt như: Nghe thấy một đoạn tin tức, nhìn thấy tai nạn, ngửi thấy mùi gợi lại sự kiện sang chấn.

4.2. Tránh né các sự kiện, tình huống gợi nhớ đến sang chấn:

- Bệnh nhân tránh né các tình huống, sự kiện, tác nhân kích hoạt gây ra ký ức về sang chấn. Thậm chí bệnh nhân tránh nói hoặc suy nghĩ về các tình huống, sự kiện này. Ví dụ:

+ Bệnh nhân né tránh lái xe vì trước đó bệnh nhân bị tai nạn hoặc đoàn xe quân sự của họ từng bị tấn công.

+ Tránh xem phim về động đất nếu trước đây thoát chết do động đất.

+ Bệnh nhân luôn cố tình bận rộn hoặc né tránh tìm kiếm sự giúp đỡ vì điều đó làm cho bệnh nhân tránh được suy nghĩ hoặc nói về sự kiện sang chấn.

4.3. Biểu hiện thay đổi về niềm tin và cảm xúc:

- Bệnh nhân mất các cảm xúc tích cực hoặc yêu thương đối với người khác hoặc tránh né các mối quan hệ.

- Bệnh nhân có thể quên các sự kiện đau buồn hoặc không thể nói chuyện về chúng.

- Bệnh nhân có thể nghĩ rằng thế giới hoàn toàn nguy hiểm và không ai có thể  thể tin tưởng được.

4.4. Các triệu chứng bồn chồn, tăng cảnh giác.

Bệnh nhân bồn chồn và luôn cảnh giác đối với nguy hiểm. Bệnh nhân dễ dàng tức giận và cáu kỉnh ngoài ra còn có các biểu hiện khác:

- Khó ngủ.

- Khó khăn trong tập trung chú ý.

- Dễ giật mình bởi tiếng động.

5. Cận lâm sàng:

- Hiện tại, ở Việt nam không có xét nghiệm CLS đặc hiệu cho chẩn đoán PTSD.

- Có thể làm các trắc nghiệm tâm lý để đánh giá lo âu, trầm cảm, nhân cách ở bệnh nhân PTSD để giúp đánh giá tình trạng hiện tại và tiên lượng bệnh như: Zung, Beck, MMPI…

- Đối với bệnh nhân điều trị nội trú cần làm CLS thường quy và các CLS cần thiết khác để chẩn đoán phân biệt.

6. Phân loại và chẩn đoán.

6.1. Phân loại:

- Theo ICD-10:

PTSD được phân loại ở nhóm F40-F48: Các rối loạn bệnh tâm căn liên quan đến stress và rối loạn dạng cơ thể, thuộc phân nhóm F43: Phản ứng với stress trầm trọng và rối loạn thích ứng.

- Theo DSM-5:

PTSD thuộc chương Các rối loạn liên quan đến sang chấn và stress: Trauma- and Stressor-Related Disorders. Trong DSM-5, có 2 tiêu chuẩn cho PTSD gồm tiêu chuẩn cho người lớn và trẻ em từ 6 tuổi trở lên và tiêu chuẩn dành cho trẻ em < 6 tuổi.

6.2. Chẩn đoán xác định:

6.2.1. Theo ICD -10 dành cho nghiên cứu (DCR -1993)

Mã : F43.1

A. Bệnh nhân phải tiếp xúc với một sự kiện gây stress hoặc một tình huống nguy hiểm đặc biệt hoặc một thảm họa thiên nhiên (trong một thời gian ngắn hoặc dài), những điều này có thể gây đau khổ tràn lan ở hầu hết mọi người.

B. Phải có những ký ức dai dẳng hoặc có sự “hồi sinh” của những sang chấn trong những cảnh hồi tưởng bắt buộc, những ký ức sống động hoặc trong giấc mơ tái diễn hoặc trong việc trải nghiệm sự đau khổ tột cùng khi phải tiếp xúc với các hoàn cảnh giống hoặc liên quan đến sang chấn.

C. Bệnh nhân phải biểu hiện sự tránh né hoặc thích tránh né những tình huống giống hoặc liên quan đến sang chấn, điều này không có trước khi tiếp xúc với sang chấn.

D. Một trong hai nhóm triệu chứng sau phải có mặt:

(1) Không thể gợi lại, một phần hoặc toàn bộ những khía cạnh của giai đoạn tiếp xúc với sang chấn.

(2) Các triệu chứng dai dẳng về tăng nhạy cảm tâm lý và kích thích (không có trước khi tiếp xúc với sang chấn), được biểu hiện bởi hai trong các dấu hiệu sau:

(a). Khó buồn ngủ hoặc ngủ không yên.

(b). Cáu kỉnh hoặc có cơn nóng giận bột phát.

(c). Khó tập trung.

(d). Tăng mức độ cảnh tỉnh.

(e). Đáp ứng giật mình quá mức.

E. Tiêu chuẩn B, C và D phải được đáp ứng đồng thời trong vòng 06 tháng kể từ khi có mặt sự kiện gây stress hoặc kể từ khi kết thúc giai đoạn stress (đối với một số mục đích, những sự khởi phát muộn hơn 06 tháng cũng có thể được bao gồm trong mục đích này, nhưng chúng cần được biệt định rõ).

6.2.2. Theo DSM-5 (2013):

Mã số: 09.81 (F43.10)

Lưu ý: Các tiêu chuẩn sau chỉ áp dụng cho người lớn và trẻ em trên 6 tuổi. Đối với trẻ em dưới 6 tuổi có tiêu chuẩn khác.

A. Tiếp xúc trực tiếp với cái chết thực sự hoặc mối đe dọa chết, vết thương nghiêm trọng hoặc bạo lực tình dục thể hiện bằng 1 (hoặc nhiều hơn) những cách sau.

(1). Trực tiếp trải qua những sự kiện sang chấn đó.

(2). Chứng kiến sự kiện sang chấn đó xảy ra với những người khác.

(3). Biết được sự kiện sang chấn đó xảy ra với một thành viên trong gia đình hoặc bạn bè thân thiết. Trong trường hợp liên quan đến cái chết thật sự hay đe dọa chết của một thành viên trong gia đình hoặc bạn bè, sự kiện phải được xảy ra bạo lực hoặc tình cờ.

(4). Sự trải nghiệm lặp đi lặp lại hoặc tiếp xúc quá mức với chi tiết bất lợi của yếu tố gây sang chấn (ví dụ, nhân viên cứu hộ thu nhặt xác chết trong các vụ tai nạn, nhân viên cảnh sát nhiều lần tiếp xúc với thông tin chi tiết của lạm dụng trẻ em).

Lưu ý: tiêu chuẩn A4 không áp dụng khi có sự tiếp xúc thông qua phương tiện truyền thông điện tử, truyền hình, phim ảnh, hoặc hình ảnh, trừ khi tiếp xúc là công việc liên quan.

B. Sự có mặt của một (hoặc nhiều hơn) các triệu chứng sau đây liên quan đến các sự kiện sang chấn, bắt đầu từ sau khi cá nhân bị sang chấn xảy ra.

(1). Tái diễn, cưỡng bức, gợi nhớ những sự kiện sang chấn.

Lưu ý: ở trẻ em trên 6 tuổi, chơi lặp đi lặp lại các chủ đề của sự kiện sang chấn.

(2). Tái diễn những giấc mơ khó chịu có nội dung và/hoặc ảnh hưởng của sự kiện sang chấn.

Lưu ý: ở trẻ em, có thể có sợi hãi trong giấc mơ mà không biết nội dung.

(3). Phản ứng phân ly (ví dụ như mảng hồi tưởng) trong đó bệnh nhân cảm thấy hoặc hoạt động như sự kiện sang chấn được tái hiện (phản ứng này có thể xảy ra liên tục, nặng nhất là bệnh nhân mất hoàn toàn nhận thức về môi trường xung quanh hiện tại).

Lưu ý: ở trẻ em, có chơi diễn lại cảnh sang chấn biệt định.

(4). Căng thẳng tâm lý kéo dài hoặc mãnh liệt khi tiếp xúc với biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong biểu tượng hoặc dấu vết của  sự kiện sang chấn.

(5). Phản ứng sinh lý với biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong biểu tượng hoặc dấu vết của  sự kiện sang chấn.

C. Sự né tránh bền vững với những kích thích liên quan tới các yếu tố sang chấn, bắt đầu sau sang chấn, có bằng chứng 1 hoặc cả hai biểu hiện dưới đây:

(1). Tránh hoặc nỗ lực để tránh những ký ức đau buồn, những suy nghĩ, cảm xúc liên quan chặt chẽ với sự kiện sang chấn.

(2). Tránh hoặc nỗ lực để tránh gợi nhớ lại (người, địa điểm, các cuộc hội thoại, các hoạt động, các đối tượng, tình huống) đó khơi dậy những ký ức đau buồn, suy nghĩ, hay cảm xúc liên quan chặt chẽ với sang chấn.

D. Những thay đổi tiêu cực trong nhận thức cảm xúc liên quan đến yếu tố sang chấn, bắt đầu hoặc xấu đi sau yếu tố gây sang chấn biểu hiện bằng chứng là hai (hoặc nhiều hơn) trong các biểu hiện sau:

(1). Không có khả năng nhớ những khía cạnh quan trọng của sang chấn (thường do mất nhớ phân ly và không do yếu tố khác như chấn thương sọ não, rượu hoặc ma túy).

(2). Những tin tưởng dai dẳng, quá mức hoặc những kỳ vọng về bản thân, về người khác, hoặc về thế giới (ví dụ, "Tôi xấu", "Không ai có thể tin được", "Thế giới là hoàn toàn nguy hiểm", "Toàn bộ hệ thống thần kinh của tôi đang bị hủy hoại vĩnh viễn").

(3). Nhận thức sai lệch, dai dẳng về nguyên nhân, hậu quả của sang chấn dẫn đến đổ lỗi cho bản thân hay người khác.

(4). Trạng thái cảm xúc tiêu cực, dai dẳng (ví dụ, sợ hãi, kinh hoàng, giận dữ, tội lỗi, hay xấu hổ).

(5). Suy giảm rõ rệt quan tâm thích thú hoặc tham gia vào các hoạt động có ý nghĩa.

(6). Cảm giác xa lánh hay lạnh nhạt từ những người xung quanh.

(7). Mất khả năng trải nghiệm cảm xúc tích cực dai dẳng (ví dụ, không có khả năng để trải nghiệm hạnh phúc, sự hài lòng, hoặc cảm xúc yêu thương).

E. Có hai hay nhiều hơn các biểu hiện dưới đây liên quan tới phản ứng của cơ thể với yếu tố gây sang chấn.

(1). Hành vi kích thích, bùng nổ giận dữ (với rất ít hoặc không có sự khiêu khích nào) thường biểu hiện sự gây hấn bằng lời nói hoặc hành động với người hoặc đối tượng khác.

(2). Hành vi liều lĩnh hoặc hành vi tự hủy hoại.

(3). Tăng cảnh giác

4. Phản ứng quá mức

(5). Rối loạn tập trung chú ý.

(6). Rối loạn giấc ngủ (khó vào giấc ngủ, khó ngủ lại, ngủ không yên).

F. Thời gian các rối loạn trên kéo dài  (tiêu chuẩn B, C, D, và E) hơn 1 tháng.

G. Rối loạn gây đau khổ và suy giảm các chức năng xã hội, nghề nghiệp và các lĩnh vực quan trọng khác

F. Các rối loạn này không phải do tác động sinh lý của một chất hoặc một bệnh lý khác.

6.3. Chẩn đoán phân biệt:

6.3.1. Rối loạn sự thích ứng (F43.2).

- Trong rối loạn sự thích ứng, stress có thể là bất kỳ mức độ nào (nhẹ, vừa, nghiêm trọng) còn sang chấn của PTSD phải rất mạnh.

- Triệu chứng xa lánh, chết lặng và tăng báo động có trước khi stress không đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán PTSD cần xem xét chẩn đoán trầm cảm hoặc lo âu khác.

- Nếu triệu chứng đáp ứng quá mức với stress, đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán RLTT khác như loạn thần cấp, rối loạn trầm cảm chủ yếu, khi đó chẩn đoán này sẽ thay thế PTSD.

6.3.2. Phản ứng stress cấp (F43.0).

Rối loạn stress cấp tính được phân biệt với PTSD vì các triệu chứng trong rối loạn stress cấp tính khởi phát ngay lập tức trong vòng 01 giờ sau khi xúc với sang chấn. Các triệu chứng có thể giảm trong vòng 08 giờ, nếu tiếp xúc với stress tiếp diễn thì các triệu chứng phải giảm sau không quá 48 giờ.

6.3.3. Rối loạn lo âu lan tỏa và Rối loạn ám ảnh cưỡng bức (OCD).

- Trong OCD, có những ý nghĩ áp đặt thường xuyên đáp ứng định nghĩa của ám ảnh. Ngoài ra, những ý nghĩ ám ảnh không liên quan đến sang chấn đến một sự kiện chấn thương tâm lý cụ thể.

- Trong Rối loạn lo âu lan toản, lo âu liên quan đến sự việc tình huống cụ thể không xảy ra khi có sang chấn mạnh như trong PTSD

6.3.4. Rối loạn trầm chủ yếu.

Trầm cảm chủ yếu có thể hoặc không khởi phát sau một sang chấn tâm lý và cần được chẩn đoán, nếu triệu chứng PTSD khác vắng mặt. Như rối loạn trầm cảm không bao gồm bất kỳ Tiêu chuẩn B (triệu chứng hồi tưởng, né tránh) hoặc các triệu chứng trong tiêu chuẩn C (các triệu chứng phân ly). Nó cũng không bao gồm một số triệu chứng PTSD từ tiêu chuẩn D (sợ hãi, giận dữ…) hoặc E (tăng cảnh giác…).

6.3.5. Rối loạn phân ly.

Các triệu chứng của rối loạn phân li có thể xuất hiện hoặc không sau sang chấn hoặc có thể hoặc không cùng với các triệu chứng khác của PTSD. Khi các triệu chứng đáp ứng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán PTSD thì nên đặt chẩn đoán, tuy nhiên nên chẩn đoán PTSD với các triệu chứng phân ly.

6.3.6. Các rối loạn tâm thần khác.

Hồi tưởng trong PTSD phải được phân biệt với ảo tưởng, ảo giác, và rối loạn tri giác khác có thể xảy ra trong bệnh tâm thần phân liệt, loạn thần cấp, và các rối loạn loạn thần khác; rối loạn trầm cảm lưỡng cực.

6.3.7. Chấn thương sọ não(CTSN).

Khi một chấn thương não xảy ra trong bối cảnh của một sự kiện chấn thương (ví dụ như, tai nạn chấn thương…), các triệu chứng của PTSD có thể xuất hiện. Một CTSN cũng là một chấn thương về tâm lý, CTSN cũng gây ra các triệu chứng thần kinh - nhận thức có thể xảy ra đồng thời và không loại trừ lẫn nhau. Các triệu chứng sau chấn động não (ví dụ, đau đầu, chóng mặt, nhạy cảm với ánh sáng hoặc âm thanh, dễ cáu gắt, giảm tập trung) cũng có thể xảy ra ở bệnh nhân PTSD. Chẩn đoán phân biệt dựa vào sự tái trải nghiệm và né tránh sự kiện sang chấn của PTSD và triệu chứng rối loạn định hướng kéo dài gặp ở CTSN nhiều hơn.

7. Điều trị:

7.1. Điều trị nội trú bắt buộc khi:

- Có ý tưởng tự hủy hoại hoặc tự sát.

- Có ý tưởng giết người.

- Lạm dụng ma túy và các chất tác động tâm thần.

7.2. Điều trị bằng thuốc:

- Thuốc chống trầm cảm:

+ Theo Sadock (2015): Nhóm SSRI, đặc biệt là setraline (Zoloft) và paroxetine (Paxil, Sumiko, Pharmapar) là lựa chọn hàng đầu cho PTSD. Ở trẻ em và vị thành niên, các nhà tâm thần học Anh (hướng dẫn của NICE năm 2014) khuyên dùng setraline và citalopram.

+ Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng được cho là có hiệu quả là imipramine (Topranil) và amitriptyline (Elavil). Các thuốc này có hiệu quả trên các triệu chứng trầm cảm, mất ngủ, các triệu chứng xa lánh, phải điều trị > 8 tuần mới có tác dụng.

- Các thuốc khác:

+ Thuốc kháng adrenergic: Clonidine và propranolol được cho là có hiệu quả đối với PTSD trên các triệu chứng bồn chồn, rối loạn giấc ngủ, ác mộng và triệu chứng tăng cảnh giác. Cần thận trọng đối với các tác dụng phụ của thuốc trên tim mạch và hô hấp.

+ Không có bằng chứng rõ ràng về hiệu quả của thuốc chống loạn thần trên PTSD. Việc sử dụng haloperidol ngắn ngày để kiểm soát các hành vi kích động, gây hấn nghiêm trọng cần cân nhắc, phải lưu ý các tác dụng không mong muốn của thuốc này có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng của PTSD. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy các thuốc chống loạn thần thế hệ 2 (thuốc chống loạn thần mới) đặc biệt là risperidone (Risperdal) và quetiapine (Seroquel) dùng phối hợp với SSRI có hiệu quả trên PTSD.

+ Các thuốc chỉnh khí sắc: Phối hợp carbamazepine (Tegretol) hoặc valproate (Depakine) với SSRI có hiệu quả trên PTSD với các triệu chứng bùng nổ cảm xúc và gây hấn.

+ Bezodiazepine: Theo Stoddard (2014), các nhà lâm sàng có xu hướng sử dụng benzodiazepine trên bệnh nhân PTSD. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy hiệu quả của bezodiazepine trên PTSD là không rõ ràng. BZD làm tăng nguy cơ lạm dụng thuốc này kèm theo lạm dụng rượu, ma túy và chất tác động tâm thần khác ở bệnh nhân PTSD.

7.3. Liệu pháp tâm lý:

Các liệu pháp can thiệp tâm lý được áp dụng rộng rãi là: Liệu pháp hành vi, liệu pháp nhận thức và thôi miên. Trị liệu tâm lý phải vượt qua được sự từ chối của bệnh nhân, khuyến khích họ thư dãn, vượt qua căng thẳng. Các kỹ thuật khác nhau của liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT) trên từng đối tượng bệnh nhân PTSD được coi là có hiệu quả và được áp dụng rộng rãi. Thời gian áp dụng khoảng từ 06 tháng đến 01 năm mới cho hiệu quả rõ rệt.

Nhìn chung liệu pháp tâm lý nên phối hợp với liệu pháp hóa dược để tăng cường hiệu quả điều trị.

8. Tiến triển và tiên lượng:

Các triệu chứng của PTSD thường phát triển một thời gian sau sang chấn, có thể  trong 1 tuần và kéo dài đến 30 năm. Triệu chứng của PTSD giao động theo thời gian thường có cường độ cao nhất ở vào thời kỳ stress. Nếu không điều trị, khoảng  30% bệnh nhân hồi phục hoàn toàn, khoảng 40% có các triệu chứng nhẹ, 20% bệnh nhân có các triệu chứng ở mức độ trung bình và 10% bệnh nhân các triệu chứng không thay đổi hoặc trở nên tồi tệ hơn. Sau 01 năm, khoảng 50% bệnh nhân sẽ hồi phục. Yếu tố tiên lượng tốt: Khởi phát nhanh, các triệu chứng xuất hiện dưới 06 tháng; các chức năng tiền bệnh lý tốt; có sự hỗ trợ xã hội tốt; không có tiền sử bệnh lý tâm thần, cơ thể và sử dụng chất.

Ở trẻ em và người già thường khó khăn trong việc đối phó với sang chấn so với người trẻ và trung niên. Ở trẻ em có thể chưa đủ trưởng thành (về cơ thể và tâm lý) để đối đầu với sang chấn. Ở người già có thể do tính đối phó cứng nhắc không linh hoạt so với người trẻ đối với sang chấn, ít có khả năng linh hoạt trong việc giải tỏa căng thẳng. Ngoài ra, ở người già còn ảnh hưởng bởi khuyết tật của hệ thống thần kinh và tim mạch như giảm lưu lượng máu đến não, tăng HA, rối loạn nhịp tim cũng làm cho các triệu chứng của PTSD nặng hơn.

9. Phòng bệnh:

- Tăng cường rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần.

- Phát hiện sớm và can thiệp kịp thời khi có PTSD.

- Theo dõi điều trị củng cố tránh tái phát.

- Phổ biến cho người thân biết về PTSD để phối hợp theo dõi điều trị.

- Khuyến khích bệnh nhân tham gia các khóa điều trị tâm lý, tham gia các câu lạc bộ văn hóa - thể dục thể thao giúp tái hòa nhập cộng đồng./.

Tài liệu tham khảo:

1. American Psychiatric Association (2013). Posttraumatic Stress Disorder. Trauma-and Stressor – Related Disorders. Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders Fifth Edition DSM-5TM .p: 271-280.

2. Bùi Quang Huy (2007). Rối loạn stress sau sang chấn. Rối loạn lo âu. Nhà xuất bản Y học; Tr: 78- 90.

3. Sadock BJ., Sadock V.A. (2015). Posttraumatic Stress Disorder and Acute Stress Disorder. Trauma-and Stressor – Related Disorders.  Kaplan & Sadock’s Synopsis of Psychiatry. Eleventh Edition; 11; p: 437-450.

4. Taylor D., Paton C., Kapur S. (2015). Posttraumatic Stress Disorder in children and adolescents. The Maudsley Prescribing Guidline in Psychiatry. 12th Edition. Chapter 5; p:379-383.

5. Tổ chức Y tế thế giới (1993). Rối loạn stress sau sang chấn. ICD-10 Phân loại các rối loạn tâm thần và hành vi, Tiêu chuẩn chẩn đoán dành cho nghiên cứu. Tài liệu dịch;Tr: 119-120.

6. Stoddard F.J., Simon N.M., Pitman R.K (2014). Posttraumatic Stress Disorder. Trauma-and Stressor – Related Disorders.  The Amrican Psychiatric publishing Textbook of Psychiatry. Sixth Edition. The Chapter14. p: 467-480.

 

Bình luận

Tin tức mới