Logo

Rối loạn tâm thần do sử dụng rượu

  17/09/2018

 

Tiến sỹ. Bác sỹ. Nguyễn Văn Tuấn

                                                          Trưởng khoa H – Bệnh viện Tâm thần Hà Nội

1. Một số khái niệm chung.

+ Ở đây chúng ta hiểu “rượu” là rượu uống, là các đồ uống chứa Etylic (Ethanol), công thức CH3-CH2-OH. Rượu uống khác với rượu Metylic (Methanol) tức cồn công nghiệp có công thức CH3-OH, là một chất độc, không dùng để uống.

+ Sử dụng rượu an toàn: Sử dụng rượu an toàn là sử dụng rượu không quá 3 đến 4 đơn vị uống chuẩn (1 đơn vị = 10 gam rượu nguyên chất) trong 24 giờ và trong một tuần ít nhất có một ngày không sử dụng rượu. Tuy nhiên, số lượng 3 đến 4 đơn vị uống chuẩn áp dụng chung cho đa số các đối tượng, những đối tượng không dung nạp với rượu thì sử dụng một lượng rất nhỏ rượu cũng có thể gây ngộ độc rượu cấp và như vậy không còn là sử dụng rượu an toàn.

+ Lạm dụng rượu: Là sử dụng rượu có hại cho sức khỏe (tâm thần và cơ thể), gia đình và xã hội nhưng không đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán nghiện rượu.

+ Nghiện rượu: Là tình trạng phụ thuộc rượu về cơ thể và tâm thần, sau một thời gian dài sử dụng rượu. Về cơ thể, biểu hiện có sự dung nạp rượu với xu hướng tăng liều để đạt hiệu quả tác dụng dược lý mong muốn, xuất hiện hội chứng cai khi giảm hay ngừng sử dụng rượu. Về tâm thần, biểu hiện sự thèm khát rượu mãnh liệt (craving – manque du bois), mất khả năng kiểm soát khi uống, bệnh nhân uống đến say [2],[5],[11].

+ Mức độ nghiện rượu: Theo cách phân loại của Pháp, quá trình nghiện rượu được chia thành bốn giai đoạn [5],[12]: Giai đoạn trước nghiện rượu: biểu hiện say thường xuyên, tăng tính dung nạp rượu, tăng số lượng rượu uống; Giai đoạn tiền triệu: sử dụng rượu quá mức như nhu cầu bắt buộc với người bệnh, say thường xuyên và kéo dài, có những cơn xung động uống rượu; Giai đoạn điển hình: biểu hiện đầy đủ sự phụ thuộc về cơ thể và tâm thần; Giai đoạn mạn tính biểu hiện các hậu quả về cơ thể, tâm thần và xã hội.

Theo DSM-IV chia nghiện rượu theo mức độ nặng, vừa, nhẹ. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán này, ta thấy có 9 mục về dấu hiệu và triệu chứng, nếu đối tượng có biểu hiện từ 3-4 mục là nghiện rượu mức độ nhẹ, biểu hiện từ 5-6 mục là nghiện rượu mức độ vừa, biểu hiện từ 7-9 mục là nghiện rượu mức độ nặng [7],[20].

2. Dịch tễ nghiện rượu

Barrucand D, Nguyễn Đăng Dung nêu một số nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy tỷ lệ lạm dụng rượu ở các nước trung bình khoảng 12-17% dân số, tỷ lệ nghiện rượu khoảng 3-5% dân số. Tuổi nghiện rượu có xu hướng ngày càng trẻ hóa [2],[4],[19]. Theo Nguyễn Kim Việt  có 3,6% học sinh lớp 12 ở Hoa Kỳ uống rượu hàng ngày [10]. Ở Việt Nam, theo một số nghiên cứu tỷ lệ nghiện rượu ở nam giới trên 16 tuổi chiếm khoảng trên 3% [26].

3. Rối loạn tâm thần do sử dụng rượu.

3.1. Khái niệm rối loạn tâm thần do rượu.

Rối loạn tâm thần do sử dụng rượu (rối loạn tâm thần do rượu) là rối loạn tâm thần nguyên nhân do sử dụng rượu gây lên. Rối loạn tâm thần do rượu liên quan chặt chẽ với quá trình sử dụng về khởi phát, toàn phát, lâm sàng và tiến triển. Rối loạn tâm thần này không thể quy cho rối loạn, bệnh lý tâm thần khác, không thể quy cho sử dụng các chất tác động tâm thần khác, không thể quy cho bệnh cơ thể. Tuy nhiên, trong thực tế lâm sàng có thể tồn tại rối loạn tâm thần do sử dụng rượu kết hợp với bệnh lý tâm thần khác (bệnh lý song hành) [2],[5],[11].

Rối loạn tâm thần do rượu có thể do ngộc độc rượu cấp tính hoặc do ngộ độc mạn tính rượu (nghiện rượu) gây lên [25].

Rối loạn tâm thần do rượu triệu chứng phong phú từ những triệu chứng rối loạn cảm xúc, hành vi, tư duy… đơn lẻ nằm đến tình rối loạn loạn thần thần (ảo giác, hoang tưởng…). Các triệu chứng đơn lẻ không được phân mã chẩn đoán riêng theo tiêu chuẩn chẩn đoán ICD.10, các rối loạn loạn thần biểu hiện nổi bật trong bệnh cảnh lâm sàng được phân mã chẩn đoán theo ICD.10 [25].

3.2. Lâm sàng của rối loạn tâm thần do rượu.

3.2.1 Lâm sàng rối loạn tâm thần do ngộ độc rượu (say rượu).

+ Say rượu thông thường: say rượu thông thường có thể có những rối loạn tâm thần như cảm xúc không ổn đinh, cáu giận, lo âu, rối loạn hành vi… kèm theo các triệu chứng của ngộ độc rượu. Những rối loạn tâm thần này chỉ tồn tại thời gian ngắn khi còn tác dụng dược lý của rượu, khi hết tác dụng dược lý của rượu các triệu chứng này tự hết [2],[5],[22].

+ Say rượu bệnh lý (nhiễm độc rượu bệnh lý).

Say rượu bệnh lý là tình trạng rối loạn tâm thần cấp xuất hiện khi say rượu. Thường với liều sử dụng rượu thấp, đối tượng xuất hiện tình trạng loạn thần cấp sau sử dụng rượu với liều thấp. Say rượu bệnh lý mang tính tố bẩm. Đối tượng có thể có những hành vi nguy hiểm, mất kiểm soát ý thức về hành vi của mình. Tình trạng loạn thần hết sau khi hết cơn say rượu [2],[5],[22].

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán ICD.10 thòa mãn các tiêu chuẩn sau:

- Thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán ngộ độc rượu. Lượng rượu ống ít chua đủ gây nhiễm độc với hầu hết mọi người.

- Có sự xúc phạm bằng lời nói hoặc bằng hành vi bạo lực cơ thể. Các triệu chứng này không phải là đặc trưng ở đối tượng khi không say rượu.

- Sự nhiễm độc xảy ra rất sớm (thường vài phút) sau khi uống rượu.

- Không có bằng chứng bệnh thực tổn não hoặc các rối loạn tâm thần khác.

Có ba thể say rượu bệnh lý:

. Say rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế.

. Say rượu với ảo giác chiếm ưu thế.

. Say rượu với biểu hiện kích động vận động chiếm ưu thế.     

Say rượu bệnh lý được chẩn đoán theo ICD.10, mã F10.07 [25].

3.2.2. Lâm sàng rối loạn tâm thần ở đối tượng nghiện rượu.

Ở những đối tượng nghiện rượu có thể có những triệu chứng rối loạn tâm thần. Rối loạn tâm thần biểu hiện là các triệu chứng rối loạn cảm xúc, hành vi: lo âu, triệu chứng trầm cảm, cảm xúc không ổn định, hành vi gây hấn, vệ sinh kém… hay các rối loạn nhân cách do rượu: bê tha, ích kỷ, ghen tuông… Tuy nhiên, các triệu chứng này đơn lẻ không đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán một rối loạn điển hình về triệu chứng và thời gian [2],[5],[16],[20].

Một trong những hậu quả ngộ độc manh tính rượu là biểu hiện suy giảm trí nhớ do rượu: suy giảm cả trí nhớ gần và xa. Nhưng rối loạn này không đủ chẩn đoán sa sút trí tuệ do rượu. Rối loạn này có thể kèm theo triệu chứng rối loạn cảm xúc hành vi. Rối loạn này bao gồm cả Korsakoff không sa sút trí tuệ. Theo ICD.10 được phân mã F10.6 (Hội chứng quên do rượu) [3],[6],[18],[27],[28].

3.2.3. Lâm sàng rối loạn loạn thần do rượu (Loạn thần do rượu).

* Khái niệm:

Loạn thần do rượu trong mục này là những loạn thần do ngộ độc rượu mạn tính. Các đối tượng nghiện rượu mức độ nặng (có hậu quả trên tâm thần). Loạn thần do rượu thường xuất hiện sau một thời gian nghiện rượu. Theo một số nghiên cứu loạn thần do rượu thường xuất hiện sau 5 năm nghiện rượu đối với nữ, sau 10 năm nghiện rượu đối với nam [5].

Loạn thần xuất hiện, toàn phát tiến triển liên quan chặt chẽ với quá trình sử dụng rượu, nghiện rượu.

* Lâm sàng:

Biểu hiện lâm sàng đặc trưng với các bệnh cảnh: loạn thần do rượu, sảng rượu, loạn thần khởi phát muộn do rượu.

Triệu chứng lâm sàng phong phú với biểu hiện : ảo giác thị, ảo xúc, ảo thanh đe dọa… ảo giác thường rùng rợn, ghê sợ nặng về tối và đêm ; hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại … hoặc các biểu hiện rối loạn cảm xúc điển hình đầy đủ của giai đoạn trầm cảm, giai đoạn hưng cảm hay hỗn hợp.

Nghiên cứu của các tác giả như Darcourt G và cộng sự; Kaplan H.I và Sadock B.J; Trần Đinh Xiêm nhận thấy loạn thần do rượu là tình trạng rối loạn tâm thần liên quan chặt chẽ tới quá trình sử dụng rượu, biểu hiện bằng rối loạn cảm xúc, hành vi, hoang tưởng, ảo giác… [5],[11],[29]. Hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại, ảo thị, ảo giác xúc giác là các triệu chứng thường gặp và đặc trưng của loạn thần do rượu [8],[9],[17],[21].

+ Sảng rượu là tình trạng loạn thần cấp xuất hiện ở đối tượng nghiện rượu mạn tính, là tình trạng cấp cứu về tâm thần và chuyển hóa [1],[15],[13],[23].

Biểu hiện lâm sàng của sảng rượu như sau:

- Xuất hiện khi giảm số lượng hay ngừng sử dụng rượu hoặc khi có bệnh lý cơ thể kèm theo.

- Rối loạn ý thức: mê sảng hoặc lú lẫn.

- Hoang tưởng, ảo giác cấp hay bán cấp tính. Hoang tưởng bị hại, bị truy hại thường gặp. Ảo giác chủ yếu là ảo thị giác, ảo xúc giác với nội dung rùng rợn, ghê sợ. Cảm xúc không ổn định, lo âu và hoảng sợ. Rối loạn hành vi do ảo giác, hoang tưởng chi phối mang tính phòng vệ (chạy trốn hoặc tấn công).

- Các biểu hiện của hội chứng cai rượu về mặt cơ thể trầm trọng hơn [13] như:

Rối loạn thần kinh thực vật: vã mồ hôi, mạch nhanh, huyết áp có thể tăng và có thể tăng thân nhiệt.

Triệu chứng thần kinh: run tay, chân, đi lại loạng choạng, nếu tiến triển nặng có thể run môi, run lưỡi, rối loạn nuốt và có thể có những co giật kiểu động kinh cơn lớn.

Rối loạn nước, điện giải.

Sảng rượu có hai thể: sảng rượu không có co giật và sảng rượu có co giật. Theo ICD.10 sảng rượu không có co giật mang mã số F10.40 và sảng rượu có co giật được mang mã số F10.41 [25].

+ Loạn thần do rượu: chỉ tình trạng loạn thần xuất hiện trên nền nghiện rượu mạn tính và thường xuất hiện sau mười năm nghiện rượu đối với nam và sau năm năm nghiện rượu đối với nữ. Biểu hiện lâm sàng rất đa dạng và phong phú. Thường gặp là hoang tưởng bị hại, hoang tưởng ghen tuông, ảo thị giác, ảo xúc giác, ảo thanh với các nội dung ghê sợ và đe dọa bệnh nhân [16],[22],[23],[24]. Theo Reynaud M và cộng sự  tình trạng loạn thần do rượu thường hết sau một tháng ngừng sử dụng rượu [20]. Tuy nhiên, có một số trường hợp thấy các hoang tưởng và ảo giác tồn tại mạn tính [6]. Theo ICD.10 năm 1992, loạn thần do rượu được chẩn đoán và có mã: F10.5; F10.7; F10.8; F10.9 [25].

* Chẩn đoán loạn thần do rượu.

+ Chẩn đoán xác định :

- Loạn thần xuất hiện ở bệnh nhân nghiện rượu. Liên quan chặt chẽ với quá trình sử dụng rượu, nghiện rượu.

- Triệu chứng lâm sàng đặc trưng loạn thần do rượu.

- Loạn thần không thể quy cho bệnh lý tâm thần khác, bệnh lý cơ thể, không do sử dụng chất tác động tâm thần khác.

+ Chẩn đoán theo ICD.10 [25] :

Căn cứ tiêu chuẩn chung đủ chẩn đoán loạn thần do rượu. Tùy theo bệnh cảnh lâm sàng triệu chứng lâm sàng nào nổi trội, chẩn đoán theo mã số của bệnh cảnh lâm sàng đó:

F10.40 Sảng rượu không co giật.

F10.41 Sảng rượu có co giật  

F10.50 Rối loạn loạn thần do rượu giống phân liệt

F10.51 Rối loạn loạn thần do rượu, hoang tuởng chiếm ưu thế

F10.52 Rối loạn loạn thần do rượu, ảo giác chiếm ưu thế

F10.53  Rối loạn loạn thần do rượu, chủ yếu đa dạng

F10.54   Rối loạn loạn thần do rượu, các triệu chứng trầm cảm chiếm ưu thế

F10.55  Rối loạn loạn thần do rượu, các triệu chứng hưng cảm chiếm ưu thế

F10.56 Rối loạn loạn thần do rượu, trạng thái hỗn hợp

F10.7: Trạng thái loạn thần di chứng và khởi phát muộn do rượu.

F10.8: Các rối loạn tâm thần và hành vi khác do rượu.

F10.9: Rối loạn tâm thần và hành vi không biệt định do rượu.

* Một số loạn thần do rượu theo hội chứng đặc trưng.

+ Bệnh não Wernicke (Encéphalopathie de Wernicke) hay còn gọi là hội chứng Wernicke-Korsakoff  theo trường phái Anh-Mỹ. Đây là tình trạng cấp cứu, gặp ở bệnh nhân rối loạn chuyển hóa do nghiện rượu gây ra suy dinh dưỡng và xơ gan. Nguyên nhân do thiếu Vitamin B1, một co-enzyme có vai trò chuyển hoá glucose, năng lượng sử dụng chủ yếu của não. Ban đầu hội chứng này có thể là rối loạn chức năng nhưng nếu không được điều trị kịp thời sẽ tiến triển thành hội chứng Korsakoff. Giải phẫu bệnh thấy tổn thương chất xám quanh khe Sylvius, quanh não thất III, thể vú, sàn não thất IV, các nhân đồi thị và thuỳ nhộng của tiểu não [2],[3],[5],[14]. Biểu hiện lâm sàng của bệnh là:

- Rối loạn định hướng không gian, thời gian, trường hợp nặng có thể rối loạn định hướng bản thân. Rối loạn ý thức biểu hiện bằng các triệu chứng lú lẫn và đờ đẫn.

- Quên thuận chiều và có thể kèm theo nhớ giả, nhớ bịa.

- Rối loạn thăng bằng kiểu tiểu não, tăng trương lực cơ ngoại tháp và liệt dây III, IV.

Tiến triển theo ba phương thức: hồi phục dưới điều trị, chết, tiến triển tới hội chứng Korsakoff. Nhiều tác giả cho rằng đây là giai đoạn đầu của hội chứng Korsakoff. Theo Nguyễn Kim Việt có 80-85% bệnh não Werrnicke có tiến triển đến hội chứng Korsakoff [60].

+ Hội chứng Korsakoff là hội chứng do Korsakoff mô tả lần đầu tiên năm 1898 ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính, xơ gan [4],[5],[60],[101]. Pitel A.L và cộng sự nhận thấy hội chứng Korsakoff còn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Ngày nay, có những quan niệm mới về hình thái lâm sàng của hội chứng Korsakoff, nhưng biểu hiện chủ yếu bằng triệu chứng suy giảm trí nhớ [18].

Biểu hiện lâm sàng của hội chứng Korsakoff gồm viêm nhiều dây thần kinh, quên thuận chiều, khó nhớ lại, bịa chuyện, nhớ giả. Có thể có các triệu chứng như: rối loạn định hướng thời gian, rối loạn định hướng không gian thường ít gặp và rối loạn cảm xúc [5]. Hội chứng Korsakoff được chẩn đoán sa sút trí tuệ khi kèm theo suy giảm rõ rệt các chức năng nhận thức khác ngoài triệu chứng suy giảm trí nhớ. + Bệnh não Marchiafava-Bignami là tình trạng rất nặng gặp ở bệnh nhân nghiện rượu tiến triển đến sa sút trí tuệ và chết. Biểu hiện lâm sàng [5],[14]:

- Rối loạn định hướng và trí nhớ, quên thuận chiều.

- Tăng trương lực cơ, loạn vận ngôn, co giật kiểu động kinh, mất đi, mất đứng.

Nguyên nhân do mất myélin nghiêm trọng, hoại tử trụ tiểu não - bán cầu não và mất chất trắng phía trước cuống tiểu não giữa. Tiến triển nặng dần, rối loạn chức năng hô hấp và tim mạch dẫn đến tử vong.

3.2.4 Tiến triển.

Ổn định tâm thần; tiến triển mạn tính với biểu hiện: loạn thần mạn tính; rối loạn nhân cách hành vi. Tử vong do hậu quả trên cơ thể hoặc tâm thần.

4. Điều trị.

4.1. Nguyên tắc điều trị.

- Điều trị theo giai đoạn.

- Điều trị triệu chứng.

- Kết hợp điều trị rối loạn tâm thần và điều trị ngộ độc hoặc cai nghiện.

- Điều trị rối loạn tâm thần với rối loạn và bệnh cơ thể: Vitam min nhóm B liều cao, nhất là Vitamin B1, giải lo âu, chống loạn thần, bù nước điện giải [1],[2],[5].

- Kết hợp nhiều biện pháp.

- Theo dõi và chăm sóc toàn diện.

4.2. Điều trị cụ thể.

4.2.1. Giai đoạn cấp (giai đoạn ngộ độc hoặc hội chứng cai).

Giai đoạn này điều trị gồm: điều trị giải độc rượu (điều trị hội chứng cai rượu) và điều trị rối loạn tâm thần. Hai vấn đề điều trị không tách rời nhau.

* Điều trị giải độc rượu:

+ Để dừng rượu tuyệt đối, người bệnh cần được điều trị trong môi trường được quản lý. Tốt nhất điều trị tại các bệnh viện chuyên khoa, để phòng tránh các tai biến xảy ra.

+ Liệu pháp vitamin nhóm B liều cao nhằm cân bằng chuyển hóa, đề phòng tiến triển đến sảng rượu:

- Vitamin B1 liều 300 đến 500 mg/24 giờ, đường tiêm bắp hay đường uống.Vitamin B6 liều 250 mg/24, Vitamin B12 13,6 đến 19,4 µg/24 giờ đường tiêm hoặc uống, có thể dùng Vitamin PP 200 mg/24 giờ nếu có biểu hiện viêm da do rượu; acide folic 30 mg/24 giờ, khi có thiếu máu.

Các vitamin có thể dùng dưới dạng hỗn hợp vitamin uống hoặc tiêm, truyền như: Vitamin Bcomplex, Neurobion, Dd Vitaplex.

+ Bù nước điện giải theo đường truyền tĩnh mạch và đường uống; nên sử dụng dịch đẳng trương, không truyền tốc độ cao tránh bong myélin não; bù điện giải theo điện giải đồ. Các Dd được dùng: Ringerlactat, Natrichlorua 0,9%, Glucoza 5%, Vitaplex; Đường uống dùng Orezol, Hydrit…

+ Giải lo âu, chống rối loạn thần kinh thực vật: Diazepam 10 mg x 2 đến 3 lần ngày, trong trường hợp cơn hoảng sợ có thể dùng Diazepam 10 mg tiêm tĩnh mạch chậm. Hoặc Temesta 2-6 mg/24 giờ; Seresta 20-60 mg/24 giờ; Tranxen 10-30 mg/24 giờ; Xanax (alprazolam) 0,5-1,5 mg/24 giờ; Lysenxia 10 – 30 mg/24 giờ. Trong điều kiện Việt Nam chủ yếu dùng Diazepam.

+ Điều trị các bệnh nội khoa kết hợp theo phác đồ điều trị bệnh nội khoa.

* Điều trị rối loạn tâm thần.

Đều trị rối loạn tâm thần căn cứ vào bệnh cảnh lâm sàng cụ thể, căn cứ vào thể trạng của người bệnh.

- Hoang tưởng, ao giác, kích động dùng Haloperridol liểu 10 mg đến 20 mg, tối đa 30 mg, đường tiêm khi người bệnh kích động, không hợp tác, còn chủ yếu dùng đường uống. Khi tình trạng loạn thần giảm, nên giảm liều không nên sử dụng liều cao. Trưởng hợp ngưởi bệnh không dung nạp hoặc thể trạng yếu có thể dùng chống loạn thần mới như Risperidone 2 mg đến 6 mg/24 giờ, Quetiapine 400 mg đến 600 mg/24 giờ.

Tránh dùng các chống loạn thần có tác dụng trêm hệ Cholin như Aminazin, Levomepromazine; Tránh dùng chống loạn thần gây rối loạn chuyển hóa giai đoạn hội chứng cai như Olanzapine.

+ Trầm cảm: chỉ chỉ định thuốc chống trầm cảm khi có trầm cảm nặng trong giai đoạn này. Nên dùng chống trầm cảm SSRI và chống trầm cảm mới, chuyển hóa qua gan, ít tác dụng trên hệ Cholin; dùng liều thấp và trung bình: Paroxetine 20 mg đến 40 mg/24 giờ, Sertraline 50 mg đến 100 mg/24 giờ, Fluoxetine 20 mg đến 40 mg/24 giờ…

+ Hưng cảm hoặc rối loạn cảm xúc giống lưỡng cực có thể điều trị bằng chống loạn thần có tác dụng trên cả hưng cảm, trầm cảm như Quetiapine liều 400 mg đến 600 mg hoặc điều trị bằng thuốc chỉnh khí sắc như Valproat liểu 1000 đến 1500 mg/24 giờ.

+ Lo âu điều trị bằng Diazepam (đã nếu trên).

4.3.2.2. Giai đoạn bán cấp và ổn định (giai đoạn hậu cai)

+ Tiếp tục điều trị thuốc chống loạn thần cho hết các triệu chứng loạn thần. Tuy nhiên liều thấp hơn, vì hầu hết các triệu chứng hoang tưởng, ảo giác ở người bệnh LTDR thuyên giảm nhanh. Khi hết các triệu chứng loạn thần ba tuần có thể giảm và cắt chống loạn thần.

+ Thuốc chống trầm cảm tiếp tục điều trị liều phù hợp, kéo dài 3 đến 6 tháng.

+ Thuốc giải lo âu nhóm benzodiazepine không nên dùng kéo dài. Giai đoạn này có thể dùng thay thế bằng nhóm thuốc giải lo âu khác không gây phụ thuộc thuốc như: Hydroxyzine (Atarax) liều 25 đến 100 mg/24 giờ.

+ Thuốc chỉnh khí sắc: duy trì liều phù hợp. Hết triệu chứng hưng cảm trên một tháng có thể giảm liều và cắt. Nếu xác định tình trạng nghiện rượu trên Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, điều trị theo phác đồ chống tái phát của rối loạn cảm xúc lưỡng cực;

5. Tiên lượng.

- Ổn định không tái nghiện, không hậu quả.

- Loạn thần di chứng.

- Hết loạn thần nhưng trở về trạng thái nghiện rượu.

- Tỷ vong do bệnh cơ thể, tử vong do hậu quả tâm thần.

6. Phòng bệnh.

- Tuyên truyền tác hại của rượu cho cộng đồng.

- Tuyên truyền, trợ giúp y tế các nhóm đối tượng nguy cơ cao, lạm dụng rượu.

- Chống tái nghiện.

Từ khóa (key word): rối loạn tâm thần do rượu, loạn thần do rượu, nghiện rượu, ngộ độc  rượu. psychose alcoolique, dépendance alcoolique, toxique alcoolique.

 

Tài liệu tham khảo

 

1. Americain Psychiatric Association (2004). Practice Guildeline for the Treatment of  Patients With Delirium.  Practice Guidelines for Treatment of  Psychiatric Discorders, Edition Panther Publishers Private Limited, Washington, 29 - 66.

2. Barrucand D (1997). Alcoologie, Édition du Departement d’Alcoologie Therapeutique  Riom Laboratoire-CERM, Paris,  21 – 69, 79 – 93, 141 – 145, 155 –160, 183 – 185, 199  - 208, 211 – 237, 253 – 269.

3. Trần Hữu Bình (1994). Đặc điểm lâm sàng hội chứng Korsakoff trên bệnh nhân nghiện rượu mãn tính điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần. Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành tâm thần học, 12/1994, Viện Sức khỏe Tâm thần, Bộ Y tế, 113 – 121.

4. Bouhot N et al (2005). Alcool. Publication médicale, Édition Société francaise d’Alcoologie, www.sfalcoologie.asso.fr 25/8/2005.

5. Darcourt G et al (1998). Alcoolisme: intoxication aigue et chronique. syndrome de sevrage, complications psychiatriques, neurologiques aigues et chroniques imputables à l’alcool. Internat, Édition Heures, Paris. 130- 145.

6. Eustache F and Baunieux H (2005). Sévérité des troubles cognitifs et maintien de ceux-ci après sevrage. Commmuniqué de Presse, Édition Institut National de la Santé et de la Recherche Médicale, Paris.

7. Guelfi J.D (1994). Troubles liés à une substance. Diagnostic and statistical manuel of mental disorders Mini (DSM-IV Mini), 4th edition, Version en francaise, Édition MASSON, Paris, 106 – 119.

8. Hall R.C, Gardner E.R, Stickney S.K et al (1980). Physical illness manifesting as psychiatric diseaase. Analysis of a state hospital inpatient population.  Arch-Gen-Psychiatric, 37 (3),  989 – 995.

9. Nguyễn Mạnh Hùng (2003). Đặc điểm lâm sàng của loạn thần do rượu với hoang tưởng do rượu và ảo giác chiếm ưu thế. Nội san số đặc biệt 2003, Bệnh viện Tâm thần Trung ương I, Bộ Y tế, 33 – 37.

10. Kaplan H.I and Sadock B.J (2013). Lạm dụng chất ở trẻ vị thành niên. Tóm lược Tâm thần học trẻ em và thanh thiếu niên, Nguyễn Kim Việt và cộng sự trích và dịch theo Kaplan & Sadock’s: Consie Texboook of Child and Aldolesscent psychiatry, 10/E, 2009, Lippincott William & Wilkns/Wolters Kluwer Health, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, 311 – 320.

11. Kaplan H.I and Sadock B.J (2007). The Brain and Behavior: Functional and Behavioral Neuroanatomy. Delirium, Dementia, and Amnesstic and Other Cognitive Disorders. Alcohol-Related Disorders. Synopsis of Psychiatry: Behavioral Sciences/Clinical Psychiatry, Edition Tenth, New York, 70 - 93, 319 - 350, 390 - 406.

12.  Le Vot-Ifrah C, Mathelin M, Nahoum V et al (1989). Boire: alcool, culture, clinique. Histoire et anthropologie du Boire en France du XVIe au XVIIIe siècle. De L’Ivresse À L’ Alcoolisme, Édition Dunod,  Paris, 29 - 82, 101 - 123, 143 – 145.

13. Leujeune D (1998). Les Conséquences Somatiques De l’Alcoolisme. Alcoolisme, Édition  LOUVAIN MED, Paris, 117, 125 – 132.

14. Mounier E, Hervé C, Samid M  et al (1998). Carence en vitamine B1 et amomalies électrophysiologiques chez les alcoolodépendants. Alcoologie, décembre 1998,  20 (4), 349 – 350.

15. Trần Viết Nghị (2000). Sảng rượu. Loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế. Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần, Tập bài giảng dành cho sau đại học, Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học Y Hà Nội, 127 - 141.

16. Phan Thanh Nhuận, Nguyễn Văn Ngân, Lò Mai Cam (1999). Nhận xét đặc điểm lâm sàng rối loạn tâm thần ở bệnh nhân nghiện rượu. Tạp chí Y học thực hành, 11 (373), 42 – 44.

17. Olié J.P et al (2000). Complication de l’alcoolisme chronique. Le livre de L’interne Psychiatrie, Édition Médecine-Sciences Flammarion, Paris. 330 - 340.

18. Pitel A.L, Chételat G, Le Berre A.P et al (2012). Macrostructural abnormalities in Korsakoff syndrome compared with uncomplicated alcoholism. Neurology 2012, 78, 1330-1333.

19. Poulichet S.L (2002). Émergence de la notion d’addiction: des approches psychanalytiques aux clasification psychanalytiques.  Les Addictions, Édition Presses Universitaires de France, Paris, 11 – 65.

20. Reynaud M et al (2002). Pratiques addictives, Édition Odile Jacob, Paris, 249 – 266.

21. Ngô Ngọc Tản và Nguyễn Văn Ngân (2005). Rối loạn tâm thần do rượu. Bệnh học tâm thần, Giáo trình giảng dạy sau đại học, Bộ môn Tâm thần và Tâm lý y học, Học viện Quân y, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 156 – 160.

22. Nguyễn Viết Thiêm (2000). Say rượu thông thường và say rượu bệnh lý.  Bài giảng dành cho sau đại học:  Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần, Bộ môn Tâm Thần, Đại Học Y Hà Nội, 112 – 116.

23. Thiercelin N, Rabiah Lechevallier Z, Rusch E  et al (2011). Facteurs de risque du delirium tremens. La Revue de Médecine Interne, Édition Elsevier Masson, Paris, 33 (1), www.em-consulte.com/, 2/8/2011.

24. Phạm Đức Thịnh và cộng sự (2006). Nhận xét đặc điểm của hoang tưởng ở bệnh nhân loạn thần do rượu điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần từ năm 2000 – 2001. Tạp chí Y học thực hành, 6 (547), 34 -35.

25. Tổ chức y tế thế giới  (1993). Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần. Phân loại các rối loạn tâm thần và hành vi. Tiêu chuẩn chẩn đoán dành cho nghiên cứu, Biên dịch: Trần Viết Nghị và cs, 77 – 80.

26. Lê Anh Tuấn và Lý Trần Tình (2010). Lạm dụng rượu, nghiện rượu ở Hà Nội, Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội, 76 – 112.

27. Nguyễn Văn Tuấn và Trần Hữu Bình (2015). Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức do rượu. Tạp chí Y học Thực hành, số 11(986), 92 – 97.

28. Nguyễn Kim Việt (2000). Bệnh não Wernicke và loạn thần Korsakoff. Bài giảng: Rối loạn tâm thần thực tổn, Bộ môn Tâm Thần, Đại Học Y Hà Nội, 102- 110.

29. Trần Đình Xiêm (1997). Loạn tâm thần do nghiện rượu. Tâm thần học, Bộ môn Tâm thần, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, 260 - 268.

 

 

 

 

Bình luận

Tin tức mới