Logo

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TÁC ĐỘNG TÂM THẦN TRÊN NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ

  23/09/2019

BSCKII. Ngô Hùng Lâm,

DSCKII. Chu Thị Hằng,

BSCKII. Vũ Ngọc Úy

Tóm tắt: Nghiên cứu 316 bệnh án của người bệnh được chẩn đoán tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần Hà Nội đã ra viện từ 01/01/2018 đến 31/3/2018 cho kết quả: Tỷ lệ bệnh án có phối hợp trên 2 thuốc là 50%; Tỷ lệ bệnh án dùng 1 thuốc chống loạn thần là 80,7%, có phối hợp 2 thuốc chống loạn thần là 18,67%, có phối hợp 3 thuốc chông loạn thần là 0,63%. Liều tương đương trung bình của các thuốc chống loạn thần là 337,65 ± 289,32. Tỷ lệ phối hợp thuốc chống loạn thần với Diazepam là 42,4%; với Trihex là 15,19%; với thuốc kháng Histamin là 19,9%; với Valproat là 6,65%. Tỷ lệ bệnh án có tương tác thuốc là 27,85%.

1. Đặt vấn đề

Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, có khuynh hướng mạn tính, hay tái phát, tỷ lệ mắc trên thế giới khoảng 1% dân số, ở Việt Nam, tỷ lệ này là 0,42%. Trong các tài liệu hướng dẫn kê đơn, điều trị và thực tế trên thực hành lâm sàng, các bác sỹ thường phối hợp các thuốc tác động tâm thần với mục đích làm tăng hiệu quả điều trị đồng thời làm giảm các tác dụng không mong muốn của thuốc chống loạn thần. Nhằm mục đích khảo sát thực trạng sử dụng và tương tác thuốc tác động tâm thần trên người bệnh tâm thần phân liệt điều trị nội trú, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục tiêu:

Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc tác động tâm thần trên người bệnh tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần Hà Nội năm 2018.

Khảo sát tương tác thuốc tác động tâm thần trên đối tượng nghiên cứu.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ bệnh án của người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần Hà Nội, ra viện từ 01/01/2018 đến 31/3/2018 và được chẩn đoán khi ra viện là tâm thần phân liệt.

- Phương pháp nghiên cứu: phân tích hồi cứu.

- Cỡ mẫu: 316 bệnh án.

3. Kết quả và bàn luận:

3.1. Thực trạng sử dụng thuốc tác động tâm thần

Bảng 3.1. Tỷ lệ bệnh án có phối hợp thuốc

Số trường hợp

Tần suất

Tỷ lệ (%)

Không phối hợp thuốc

158

50

Có phối hợp thuốc

158

50

          Với 316 trường hợp nghiên cứu có 158 bệnh án (chiếm 50%) có phối hợp 2 thuốc trở lên.  Dussias (2010), khi khảo sát việc phối hợp thuốc tác động tâm thần trong điều trị người bệnh tâm thần phân liệt ở Mỹ trong 02 năm 2009 và 2010 cho kết quả 53% người bệnh được sử dụng đơn trị liệu. [2]

Bảng 3.2: Tỷ lệ bệnh án có phối hợp thuốc chống loạn thần

Phối hợp thuốc

Tần suất (n=316)

Tỷ lệ

Không phối hợp thuốc CLT

255

80,7

Có phối hợp 2 thuốc CLT

59

18,67

Có phối hợp 3 thuốc CLT

2

0,63

Tổng

316

100

          Trong 316 bệnh nhân nghiên cứu có 255 bệnh nhân không phối hợp thuốc CLT (chiếm tỷ lệ 80,7%), 59 bệnh nhân có phối hợp 02 thuốc chống loạn thần, chỉ có 02 (0,63%) bệnh nhân phải hối hợp 03 thuốc chống lọan thần. Sweileh và cộng sự nghiên cứu trên 250 bệnh nhân thì điều trị đơn trị liệu chỉ chiếm 49,6%, tỷ lệ phối hợp hai  thuốc chống loạn thần 38,4%, phối hợp ba thuốc chống loạn thần 11,6% [6]. Sim và cộng sự (2004), có 45,7% bệnh nhân tâm thần phân liệt được điều trị hơn 2 loại thuốc chống loạn thần trong một nghiên cứu khảo sát trên 2399 bệnh nhân tâm thần phân liệt ở Đông Á [5]. Fisher và cộng sự (2014) nghiên cứu khảo sát 4156 bệnh nhân ở Mỹ cho thấy: 76,71% bệnh nhân tâm thần phân liệt được điều trị 01 loại chống loạn thần; 23,29% có phối hợp từ 2 thuốc CLT trở lên [3].

Bảng 3.3. Các cặp phối hợp CLT phổ biến

Các cặp phối hợp CLT

Số BA (n=59)

Số ngày phối hợp TB

Tỷ lệ

Haloperidol - Levomepromazin

16

11,81 ± 14,38

27,12

Clozapin - Haloperidol

19

1,79 ± 1,9

32,20

Levomepromazin - Risperidone

4

36,25 ± 22,91

6,78

Haloperidol - Olanzapin

11

15 ± 24,45

18,64

Levomepromazin - Olanzapin

5

30,8 ± 26,86

8,47

Cặp phối hợp nhiều nhất là Clozapin và Haloperidol chiếm 22 lượt trong 19 bệnh nhân chiếm 32,20%. Tuy nhiên số ngày phối hợp trung bình thấp chỉ là 1,79 ± 1,9 ngày.
Các cặp phối hợp thường được sử dụng tiếp theo là: Haloperidol – Levomepromazin; Haloperidol – Olanzapin; Levomepromazin – Olanzapin và Levomepromazin- Risperidone. Số ngày phối hợp trung bình của các cặp phối hợp ngày đều trên 10 ngày.

Bảng 3.4. Liều trung bình của các thuốc CLT

Tên thuốc

Liều trung bình

Clopromazin

276,5 ± 76,1

Clozapin

276,5 ± 76,1

Haloperidol

13,0 ± 8,1

Levomepromazin

193,4 ± 86,6

Olanzapin

17,8 ± 5,2

Risperidon

3,6 ± 1,7

Quetiapin

447,1 ± 141,1

          Liều trung bình các thuốc CLT cả thế hệ cũ và thế hệ mới đều nằm trong giới hạn điều trị ở những người bệnh Tâm thần phân liệt.

          Liều tương đương trung bình khi phối hợp: 337,65 ± 289,32 mg.

Bảng 3.5. Tỷ lệ phối hợp thuốc CLT với các thuốc khác (n=316)

Số trường hợp

Tần suất

Tỷ lệ (%)

Phối hợp CLT với Diepam

134

42,40

Phối hợp CLT với Valproat

21

6,65

Phối hợp CLT với Trihex

48

15,19

Phối hợp CLT với Hydroxyzin

6

1,9

Phối hợp CLT với kháng histamin

63

19.9

          Tỷ lệ phối hợp thuốc CLT với Diazepam chiếm 42,4%; phối hợp với kháng histamin có 63 trường hợp (19,9%); phối hợp với thuốc chống ngoại tháp là 48 trường hợp (15,19%); phối hợp với thuốc chỉnh khí sắc: 6,65%. Fisher và cộng sự thấy tỷ lệ phối hợp với các thuốc an thần gây ngủ 1623/4156 bệnh nhân (39.1%) [3]. Theo Sadock (2007), trong giai đoạn cấp tính việc phối hợp thuốc chống loạn thần với benzodiazepine có tác dụng nhanh chóng làm giảm kích động và giảm liều thuốc chống loạn thần cần thiết để kiểm soát loạn thần. Trong giai đoạn ổn định và di chứng, mục tiêu điều trị nhằm chống tái phát các triệu chứng loạn thần và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, kiểm soát các tác dụng không mong muốn của thuốc [4].

3.2. Thực trạng tương tác thuốc

Bảng 3.6. Mức độ tương tác thuốc (n=316)

Bệnh án

Tần suất

Tỷ lệ

 có TTT

88

27,85

có TTT nghiêm trọng

53

16,77

có TTT trung bình

49

15,5

          Trong số 316 bệnh án nghiên cứu, có 88 bệnh án có tương tác thuốc chiếm 27,85%, trong đó có 53 bệnh án gặp tương tác mức độ nghiêm trọng chiếm 16,77%. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuận ở bệnh viện tâm thần trung ương 1 năm 2016: trong tổng số 215 bệnh án nghiên cứu, tỷ lệ bệnh án có xuất hiện ít nhất 1 tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng chiếm tới 66,51% [1].

Bảng 3.7. Các cặp TTT nghiêm trọng thường gặp

STT

Cặp tương tác

Số lần tương tác

Số ngày phối hợp TB

Hậu quả

1

Clozapin – Haloperidol

19

1,79 ± 1,9

Có thể làm tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT

2

Diazepam - Olanzapin

18

6,56 ± 5,65

Có thể dẫn đến an thần quá mức và ức chế hô hấp (Diazepam tiêm).

3

Haloperidol - Promethazin

10

2,3 ± 1,77

Có thể làm tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT.

4

Haloperidol - Hydroxyzin

5

7,4 ± 4,77

Có thể làm tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT.

          Trong số các cặp tương tác thuốc nghiêm trọng thường gặp, cặp phối hợp Clozapin – Haloperidol; Diazepam - Olanzapin; Haloperidol - Promethazin gặp với tỷ lệ cao nhất.

4. Kết luận và kiến nghị:

Kết luận:

- Tỷ lệ bệnh án có phối hợp trên 2 thuốc là 50%.

- Tỷ lệ bệnh án dùng 1 thuốc chống loạn thần là 80,7%, có phối hợp 2 thuốc chống loạn thần là 18,67%, có phối hợp 3 thuốc chông loạn thần là 0,63%.

- Liều tương đương trung bình của các thuốc chống loạn thần là 337,65 ± 289,32.

- Tỷ lệ phối hợp thuốc chống loạn thần với Diazepam là 42,4%, phối hợp thuốc chống loạn thần với Trihex là 15,19%; với thuốc kháng Histamin là 19,9%; với Valproat là 6,65%.

- Tỷ lệ bệnh án có tương tác thuốc là 27,85%. Trong đó tỷ lệ bệnh án có tương tác thuốc mức độ nghiêm trọng chiếm 16,77%, mức độ trung bình chiếm 15,5%.

Kiến nghị:

- Nghiên cứu kỹ tương tác thuốc trước khi phối hợp từ 02 loại thuốc tác động tâm thần trở lên để tránh tương tác nghiêm trọng. Chỉ lựa chọn phối hợp có nguy cơ cao khi không còn lựa chọn khác, cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ.

- Xây dựng các cặp tương tác thuốc nghiêm trọng tại bệnh viện.

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Nguyễn Thị Thuận (2016). Đánh giá tình hình tương tác thuốc hướng tâm thần trên bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần trung ương 1, trường đại học dược Hà Nội.

  2. Dussias P et al (2010). Polypharmacy of Schizophrenia. Psychiatry (Edgmont). 2010 Aug; 7(8): 17–19

  3. Fisher M.D., Reilly K., Isenberg K. and Villa K.F. (2014). Antipsychotic patterns of use in patients with schizoprenia: polypharmacy versus monotherapy.BMC Psychiatry 2014; p: 14:341

  4. Sadock B.J., Sadock V, A., (2007). Schizoprenia. Kaplan & Sadock’s Synopsis of Psychiatry Behavioral Sciences/Clinical Psychiatry. Tenth Edition. Wolters Kluwer/Lippincott Williams & Wilkins; 13: 467-497.

  5. Sim K., Su A., Fujii S. et al (2004). Antipsychotic polypharmacy in patients with schizophrenia: a muticentre study in East Asia.Br J Clin Pharmacol, (58), p: 178-183.

  6. Sweileh et al (2013). Conformance to schizophrenia treatment guidelines in North West-Bank, Palestine: focus on antipsychotic dosing and polytherapy. BMC Psychiatry 2013, 13:179.

 

Bình luận

Tin tức mới