Logo

THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HS THCS Ở HN & NHU CẦU THAM VẤN SKTT HỌC ĐƯỜNG

  08/11/2016

Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá thực trạng về sức khỏe tâm thần (SKTT) ở 1727 học sinh THCS ở nội thành Hà nội và Thường tín. Kết quả cho thấy số học sinh có vấn đề về SKTT chiếm 1/4 , trong đó 50% có biểu hiện bất thường bệnh lý cần hỗ trợ thuộc các vấn đề  hướng nội, biểu hiện dưới dạng rối loạn cảm xúc lo âu- buồn chán (trầm cảm) dạng cơ thể và hướng ngoại như có hành vi hung bao công kích hoặc làm sai qui tắc xã hội..Có nhiều yếu tố (môi trường gia đinh, chấn thương thể chất, tâm lý) tác động đến các vấn đề liên quan đến SKTT của trẻ, trong đó 1/3 các em co trải qua các biến cố stress.

 

Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm mô hình tham vấn can thiệp SKTT tại trường, có sự phối hợp của giáo viên, cán bộ tâm lý và bác sĩ. Tập huấn cho giáo viên chủ nhiệm, cán bộ đoàn đội về một số chuyên đề như  tâm lý, SKTT, kỹ năng tham vấn, tiếp cận giải quyết vấn đề, v.v được triển khai. Kết quả cho thấy, sau can thiệp điểm số thang đo ở một số học sinh có vấn đề giảm, cho thấy can thiệp có kết quả tích cực.

 

1.Đặt vấn đề

Công tác tác tham vấn sức khỏe tâm thần (SKTT) là một hoạt động quan trọng nhằm hỗ trợ trẻ em trong quá trình phát triển, đặc biệt cần thiết đối với những trẻ có vấn đề tâm lý, dẫn đến có suy nghĩ, cảm xúc và hành vi tiêu cực. Hiện nay, sự phát triển của một xã hội công nghiệp hoá- hiện đại hoá làm nảy sinh nhiều yếu tố stress gây tổn thương tâm lý, làm giảm sự bền vững, mất cân bằng về sức khoẻ tâm thần. Những năm gần đây, tỷ lệ học sinh có những biểu hiện về suy nghĩ và có cảm xúc-hành vi theo xu hướng tiêu cực như thiếu hứng thú trong học tập, bỏ nhà, trốn học, nghiện các trò chơi điện tử, chát. Hàng loạt học sinh, co giật phân ly, trầm cảm, tự tử hoặc.hành vi bao lực với bạn bè với thầy cô ngày càng gia tăng. Các điều tra cho thấy các rối loạn trên chiếm từ 20- 25% số học sinh ở các lứa tuổi. Và yếu tố stress tâm lý chiếm 80% các nguyên nhân gây tổn thương trên.

Việc dự phòng, phát hiện và can thiệp sớm có hiệu quả ở tuổi trẻ em sẽ giúp trẻ cân bằng trong phát triển, xây dựng nhân cách lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.

Ở các nước phát triển, bên cạnh hệ thống giáo dục, mạng lưới tư vấn học đường nói chung, tham vấn SKTT học đường nói riêng hoạt động hiệu quả đã phát hiện và can thiệp các vấn đề khó khăn của trẻ kịp thời, ngăn ngừa được các hành vi tiêu cực gây rối nhiễu xã hội.

Ở nuớc ta, hệ thống đào tạo cán bộ làm công tác tư vấn tâm lý học đường, tâm lý lâm sàng chưa có. Do đó, mạng lưới của công tác này còn bỏ trống. Để góp phần thúc đẩy công tác tham vấn SKTT học đường, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tỷ lệ, phân loại và mức độ các tổn thương tâm lý ở học sinh THCS, từ đó xây dựng thử nghiệm mô hình tham vấn tại trường học.

2. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Đánh giá tỷ lệ, phân loại và mức độ các tổn thương tâm lý

- Sử dụng thang đo về hành vi của trẻ em của Achenbach đã thích nghi ở Việt nam (Achenbach, 1991), bao gồm:

+ Bảng dùng cho trẻ tự ghi dành cho trẻ từ 11 đến 18 tuổi (Youth Self- Report for children 11-18 year old – YSR). YSR được thiết kế để trẻ có khả năng đọc hiểu từ lớp 5 trở lên tự báo cáo về khả năng cũng như các vấn đề của bản thân. Phần đầu của YSR ghi lại những thông tin về khả năng thích ứng của trẻ trong các mặt khác nhau: thể thao, sở thích, bạn bè, công việc nhà, học tập. Trẻ cũng tự đánh giá các năng lực và kết quả học tập cũng như quan hệ gia đình, bạn bè của trẻ. Phần thứ hai của YSR bao gồm 112 vấn đề xuất hiện trong vòng 6 tháng đến thời điểm hiện tại. Các vấn đề này được phân thành 8 trục hội chứng chính của các hành vi và cảm xúc thường gặp ở trẻ em và vị thành niên (theo Bảng phân loại bệnh lần thứ 4 của Hoa kỳ- DSM-IV) là thu mình, rối loạn dạng cơ thể, lo âu/trầm cảm, các vấn đề xã hội, vấn đề về suy nghĩ/tư duy, các vấn đề về chú ý, hành xi hung baọ, hành vi sai phamh. Mỗi biểu hiện này được đánh giá ở 3 mức độ (0= hoàn toàn không có, 1= phần nào hoặc thỉnh thoảng có, 2= hoàn toàn hoặc thường xuyên có). Trên cơ sở  tự  đánh giá  của trẻ, sẽ tính tổng điểm chung, điểm từng hội chứng, tổng điểm của nhóm hướng nội (các triệu chứng thu mình-né tránh; Lo âu- trầm cảm; rối loạn dạng cơ thể), nhóm hướng ngoại (các triệu chứng của hành vi hung bạo, các hành vi sai phạm, tăng động giảm chú  ý)

Sau đó, so sánh với thang điểm chuẩn quốc tế mà tác giả thang đo đã xây dựng  để xác định từng trẻ có vấn đề gì và ở mức độ  nào: bình thường, ở mức ranh giới, mức bệnh lý (có dấu hiệu lâm sàng)

+ Bảng dùng cho giáo viên ( Teacher’s Report Form-TRF): được thiết kế để ghi lại những báo cáo của giáo viên về việc học tập, khả năng thích ứng và các vấn đề hành vi/cảm xúc của một học sinh. TRF cũng gồm 2 phần. Ở phần 1, giáo viên đưa ra nhận xét của mình về học tập của trẻ. Giáo viên đánh giá học tập của trẻ ở từng môn theo 5 mức độ 1 (kém xa so với mức độ yêu cầu của lớp) đến 5 (tốt hơn mức yêu cầu). Về khả năng thích ứng, giáo viên dùng 7 mức độ để đánh giá trẻ so với một đứa trẻ phát triển bình thường ở độ tuổi đó: trẻ chăm chỉ, chú tâm như thế nào, hành xử như thế nào, học tập như thế nào, cảm xúc như thế nào. Phần 2 có 112 item vấn đề trong đó có 93 item giống như ở bảng YSR. Các item còn lại quan tâm đến các hành vi ở trường mà cha mẹ khó có thể quan sát được ví dụ như trêu chọc bạn, khó làm theo hướng dẫn, phá kỉ luật, v.v.

- Điều tra xã hội học để tìm các yếu tố liên quan đến các vấn đề tổn thương tâm lý ở trẻ

Chọn ngẫu nhiên 1727 học sinh, lứa tuổi từ 11- 15, của 2 trường THCS: 1 ở nội thành Hànội - trường THCS Nguyễn Trãi và 1 ở ngoại thành Hà Nội: Thường tín, Hà tây - trường THCS Vân Tảo, đưa vào nghiên cứu. Mẫu được chọn tính theo công thức:

Z (1- a/2 ) p (1-p )

N = -------------------------

( p e )

Trong đó: - Z (1- a/2 ) ở mức sác xuất 95% bằng 1,96 ,  p  là tỷ lệ dự kiến số trẻ có vấn đề về hành vi và cảm xúc đ­ược chọn là 15% (ước tính 15% )

2.2. Xây dựng mô hình can thiệp tại trường học với 3 nội dung

  • Can thiệp : hỗ trợ tâm lý xã hội, làm tham vấn trực tiếp.
  • Đánh giá kết quả trư­ớc sau hỗ trợ tâm lý xã hội
  • Mô hình tham vấn SKTT tại trường

-  Tiến hành

+  Tập huấn cho đội ngũ cán bộ tham gia nghiên cứu (bác sĩ, giáo viên, tâm lý) về kỹ năng tham vấn, trị liệu.

+ Tập huấn cho giáo viên chủ nhiệm, cán bộ đoàn đội về tâm lý tuổi vị thành niên, kỹ năng tiếp cận và hỗ trợ trẻ,  một số dấu hiệu tổn thương tâm lý (SKTT)

+ Phối hợp qui trình làm việc giữa cán bộ nghiên cứu với giáo viên, phụ huynh.

+ Lập hồ sơ tham vấn cho nhóm trẻ có vấn đề ở mức bệnh lý: đánh giá lâm sàng và trắc nghiệm, hành vi và thái độ  của cha mẹ với con cái.

+ Tham vấn trực tiếp trẻ: một hoặc 2 tuần 1 lần trong 2 tháng

+ Đánh giá kết quả trước và sau can thiệp:

2.3.  Sử dụng ph­­ương pháp thống kê y học, test c2 tính p để xác định độ tin cậy

3. Kết quả

3.1. Tỷ lệ trẻ có vấn đề SKTT ( tâm lý)

Bảng 1: Tỷ lệ  có vấn đề SKTT theo giới

 

Nam (899)

Nữ (828)

Tổng số

 

SL

%

SL

%

 

%

Bình thường

623

36,07

659

38,16

1282

74,23

Ranh giới

167

9,66

89

5,15

256

14, 82

Lâm sàng

109

6,31

80

4,63

189

10,94

 

 

 

 

 

 

 

Tỷ lệ học sinh ở mức SKTT bình thường là 74,23%. Số học sinh có biểu hiện vấn đề về hành vi và cảm xúc (SKTT) là 25,76% trong đó ở mức ranh giới là 14, 82% và 10,94% ở mức lâm sàng (bệnh lý). Tỷ lệ con trai cao hơn gái. X2 = 25.93 p< 0,01

Bảng 2 : Phân loại nhóm tổn thương của 2 trường

 

Hướng nội

Hướng ngoại

Chú ý

Nhóm khác

 

Nam

Nữ

Nam

Nữ

Nam

Nữ

Nam

Nữ

 

Ranh giới (số/phần trăm)

37

8,30%

46

10,30%

48

10,78%

15

3,40%

27

6,1%

12

2,7%

55

12,36%

16

3,6%

256

57,5%

Lâm sàng

21

4,7%

27

6,1%

28

6,3%

13

3,0%

17

3,8%

15

3,4%

43

9,7%

25

5,6%

189

42,5%

Tổng số

58

13,3%

 

73

16,4%

76

17,0%

28

6,3%

44

10,0%

27

6,0%

98

22,0%

41

9,2%

445

100%

 

- 29,70% có biểu hiện về cảm xúc (hướng nội) như lo âu- trầm cảm, rối loạn dạng cơ thể, thu mình- né tránh.  Tỷ lệ có vấn đề hướng nội chiếm 29,70% cao hơn hướng ngoại (23,60%) và nữ cao hơn nam. .

- 23,60% có biểu hiện triệu chứng hướng ngoại bao gồm hành vi hung bạo, công kích, sai phạm.Có sự khác biệt về giới về các vấn đề hướng ngoại, nam cao hơn nữ ( p<0,05 ).

- Tỉ lệ trẻ có vấn đề về chú ý cũng khá cao (16,00%) và 31,20 % là của 3 nhóm: tư duy, xã hội và vấn đề khác. Do đó, khó khăn trong tập trung chú ý và hiếu động (tăng động- giảm chú ý) cần lưu ý.

3.2. Yếu tố liên quan

3.2.1.Thực trạng gia đình

  • Kinh tế  :

- Có thu nhập cao là 14,35%;  23,45% ở mức khá; mức trung bình là 47%, 15,20% thu nhập thấp

  • Tình trạng bố mẹ:

27% số trẻ có bố mẹ ly hôn hoặc ly thân

- Mồ côi bố/ mẹ hoặc cả 2: 16,26%.

- Bố hoặc mẹ vi phạm pháp luật, nghiện ma tuý: 13,25%

- Bạo lực trong gia đình: 17,17%

3.2.2. Thái độ của bố mẹ với con cái

-  Đánh mắng, thô bạo với con cái: 17, 17%

-  Thiếu quan tâm: 19%, nhóm có vấn đề chiếm 11,32%

-  Quan tâm và khuyến khích : 64%, nhóm có vấn đề chiếm  23,6%

3.2.3. Các chấn thương ở trẻ

-  Các chấn thương trong sinh đẻ: 26,35%, trong đó nhóm có vấn đề chiếm 9,47%

Các bệnh liên quan đến hệ thần kinh: 19,23%, trong đó nhóm có vấn đề 8%

Các sự cố stress tâm lý: 31,2%,

Như vây, có nhiều yếu tố tác động đến việc nảy sinh các vấn đề tâm lý khó khăn,, trong đó 1/3 có sự cố stress tâm lý.

3. 3. Kết quả can thiệp

Ở mỗi trường, sau khi có phân tích kết quả trắc nghiệm, chúng tôi gặp riêng trao đổi cá nhân với các em có điểm trắc nghiệm YSR và TRF ở mức bệnh lý (189 trẻ-10,94%). Tuy vậy, chỉ có 123 trẻ chấp thuận làm việc với chúng tôi và tham dự quá trình can thiệp nghiêm túc và đầy đủ. Các trẻ này được các chuyên gia tâm lý lâm sàng và các bác sĩ nhi tham vấn cá nhân một hoặc 2 tuần/lần trong 2 tháng. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng có buổi làm việc với (a) hiệu trưởng nhà trường để trình bày kết quả điều tra và kế hoạch can thiệp cho các trẻ này, (b) các giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh của các em này để các cô và cha mẹ hiểu vấn đề của em và tư vấn cho họ về cách ứng xử, giáo dục các em ở trường và ở nhà. Sau 2 tháng, các em và giáo viên sẽ làm lại YSR và TRF.

 

Bảng 3: Kết quả trư­ớc và sau can thiệp tại 2 trường

 

Số trẻ có vấn đề

 

Tr­ước can thiệp

Sau can thiệp

 

Nguyễn Trãi

Vân Tảo

Nguyễn Trãi

Vân Tảo

Cảm xúc

31

17

16

12

Hành vi

47

28

38

21

Tổng số

78

45

54

33

 

Sau hỗ trợ, đánh giá lại YSR và TRF ở 78 học sinh có điểm YSR và TRF trước can thiệp ở mức bệnh lý thì có 24 em có điểm YSR và TRF ra khỏi mức bệnh lý, 54 em có điểm YSR và TRF giảm nhưng vẫn ở mức bệnh lý, tức giảm 30,76%, trong đó, (a) về cảm xúc, có 15 em có điểm số hướng nội  không còn ở khu vực bệnh lý, chiếm tỉ lệ 48,38%; (b) về hành vi, có 9 em có điểm số hướng ngoại không còn ở khu vực bệnh lý, chiếm 19,41%.

ở trường THCS Vân Tảo từ 45 em có điểm YSR và TRF ở mức bệnh lý giảm xuống còn 33 em, tức giảm 26,77%, trong đó, (a) về cảm xúc, có 5 em có điểm số hướng nội  không còn ở khu vực bệnh lý, chiếm tỉ lệ 29,41%; (b) về hành vi, có 7 em có điểm số hướng ngoại không còn ở khu vực bệnh lý, chiếm 25%.

Như vậy,  số trẻ có vấn đề cảm xúc và hành vi giảm sau quá trình tham vấn ở cả 2  tr­ường, nh­ưng ở trường THCS Nguyễn Trãi giảm nhiều hơn THCS Vân Tảo. Các vấn đề hành vi thuyên giảm ít hơn cảm xúc.

4. Bàn luận và kết luận

Như vậy, tỉ lệ học sinh được điều tra có biểu hiện có vấn đề tâm lý khó khăn là 25,76% trong đó có 10,94% là ở mức độ có rối nhiễu, bệnh lý lâm sàng. Các nghiên cứu ở Anh năm 2000 chỉ ra tỉ lệ chung trẻ em và vị thành niên từ 4 đến 18 tuổi trong cộng đồng có rối loạn tâm thần (mental disorders) vào khoảng 15% (Meltzer, Gatward, Goodman, & Ford, 2000), trong khi đó, tỉ lệ trẻ từ 9 đến 17 tuổi ở Mỹ năm 2005 là 20,9% (US Census Bureau, 2005), ở Puerto Rico năm 2004 là 19.8 % (Canino, Shrout et al, 2004). Ở Việt Nam, Mc.Kelvay và cs (1999) sử dụng thang đo đánh giá hành vi của Achenbach (CBCL) điều tra 1500 trẻ tuổi từ 4-18 tại cộng đồng 2 phường Đống Đa và Trung tự ở Hà nội năm 1997 cho tỷ lệ trẻ có biểu hiện có vấn đề về SKTT ở các dạng khác nhau là 18,56 đến 24,29%. Tương tự, Nguyễn Văn Thọ và cs (2000) báo cáo tỉ lệ học sinh 6-14 tuổi có vấn đề về SKTT ở các dạng khác nhau là từ 10,38% đến 24,29%. Nghiên cứu gần đây nhất của Ngô Thanh Hồi trên 1203 học sinh từ 10 đến 16 tuổi cho thấy tỉ lệ chung là 19,46 % (Ngô Thanh Hồi và cs, 2005). Một nghiên cứu tổng quan 52 nghiên cứu khác nhau về tỉ lệ trẻ có vấn đề về SKTT ở 20 nước khác nhau cho thấy tỉ lệ này giao động từ 1 đến 51%, bởi có sự khác nhau về cở mẫu, độ tuổi, tiêu chí chẩn đoán, sử dụng thang đo, phân tích số liệu  (Roberts, Attkisson, Rosenblatt, 1998). So với nghiên cứu của Ngô Thanh Hồi, tỉ lệ học sinh có vấn đề ở nghiên cứu của chúng tôi cao hơn. Việc dùng thang đo khác nhau có thể là 1 trong các nguyên nhân đưa ra tỉ lệ khác nhau. Ngô Thanh Hồi đã sử dụng thang đo SDQ là thang đo sàng lọc nhanh ban đầu về hành vi cho trẻ 3-16 tuổi. Thang đo SDQ có 25 item về các biểu hiện thuộc 5 nhóm vấn đề, trong khi đó YSR là 120 item với 8 nhóm triệu chứng. Ngoài ra, một nguyên nhân khác là việc lấy mẫu ở những khu vực dân cư khác nhau trong 2 nghiên cứu (không lấy mẫu đại diện).

Những khó khăn tâm lý thường biểu hiện dưới những dấu hiệu của tổn thương cảm xúc hoặc hành vi lệch chuẩn. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các vấn đề liên quan hành vi hướng ngoại chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt giảm chú ý và tăng động , các biểu hiện hành vi công kích, hung bạo và sai phạm. Các biểu hiện này ở con trai lứa tuổi nhỏ, cao hơn hẳn ở con gái (p<0,001). Các biểu hiện hướng nội là những biểu hiện về cảm xúc như lo âu, trầm cảm, né tránh và dạng cơ thể có tỷ lệ thấp hơn hướng ngoại.

Môi trường gia đình, sự cố sức khoẻ, stress tâm lý có tác động đến nảy sinh tâm lý khó khăn của trẻ, cụ thể cấu trúc gia đình không hoàn thiện nh­ư bố mẹ ly hôn, ly thân, hoặc mồ côi bố mẹ; căng thẳng, xung đột, thô bạo giữa các thành viên trong gia đình hay gia đình thiếu sự gắn bó, đồng cảm.Vì vậy trẻ thiếu sự quan tâm, chăm sóc thích hợp các nhu cầu cần thiết, đặc biệt về tình cảm.

Hỗ trợ tâm lý trực tiếp cho trẻ bằng tham vấn bước đầu cho thấy số học sinh có vấn đề giảm,  trẻ cân bằng tâm lý, giảm tỷ lệ tổn thương SKTT.

  • Mô hình phối hợp :

Tổ chức đoàn đội                            Giáo viên                                   Gia đình

 

 
   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổ chức đoàn đội                       Nhà chuyên môn Giáo viên Gia đình

 

-         Đào tạo:

+ Đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp về tâm lý học lâm sàng, về tham vấn học đường có kỹ năng

+ Mỗi cơ sở có 1 cán bộ tâm lý làm tham vấn và tập huấn cho cán bộ đoàn đội, giáo viên chủ nhiệm.

+ Nội dung đào tạo: Tâm lý học lứa tuổi, kỹ năng phát hiện vấn, kỹ năng tiếp cận- kỷ năng tham vấn, một số kỷ năng hỗ trợ, can thiệp.

Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là không có nhóm chứng -không được can thiệp để có thể so sánh, đánh giá được hiệu quả của quy trình can thiệp. Ngoài ra, nghiên cứu cũng hạn chế trên số mẫu của 2 trường THCS ở nội và ngoại thành Hà nội. Trong tương lại, việc tiến hành một nghiên cứu dịch tễ học có tính đại diện để đưa ra tỉ lệ chung về tỉ lệ học sinh có vấn đề về SKTT là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định các chính sách hỗ trợ tư vấn học đường.

 

Tài liệu tham khảo:

1.Achenbach TM (1991), Manual for the Child Behavior Checklist/ 4-18 and 1991 Profile, Burlington: University of Vermont, Department of Psychiatry.

2.Canino, G., Shrout, E., et al (2004) The DSM-IV Rates of Child and Adolescent Disorders in Puerto Rico: Prevalence, Correlates, Service Use, and the Effects of Impairment, Arch Gen Psychiatry. 2004;61:85-93.

3. Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr (2007) Giáo dục, tâm lý và sức khoẻ tâm thần trẻ em Việt nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành (Eds) Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội. 2007

4. Hội Khoa học Tâm lý- Giáo dục Việt nam (2006) Kỷ yếu hội thảo Khoa học Quốc gia’ Tư vấn tâm lý- Giáo dục. Lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển’’, TPHCM 2/2006

5. Meltzer, H., Gatward, R., Goodman, R., & Ford, T. (2000). Mental health of children and adolescents in Great Britain. London: Stationery Office.

6.Ngô Thanh Hồi và cộng sự (2007) Khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh trường học thành phố Hà Nội, hội thảo quốc tế ”Phòng ngừa và can thiệp cho trẻ có vấn đề về sức khỏe tâm thần ở Việt Nam”, Hà Nội 13,14/12/2007.

7. Roberts, R. E., Attkisson, C. C., & Rosenblatt, A. (1998). Prevalence of psychopathology among children and adolescents.American Journal of Psychiatry155, 715-725

8. Interim State Projections of Population by Single Year of Age: July 1,  2004 to 2030. U.S.Census Bureau, Population Division,     Interim State Population Projections, 2005 http://www.census.gov/population/projections/DownldFile3.xls

9. Unicef (2005) Tài liệu tập huấn kỷ năng cơ bản trong tham vấn, 2005

 

* TS  trường ĐH Giáo dục, ĐHQG, Hà nội

** TS.BS. Trung tâm tham vấn TL,GD và SKTT Trẻ em- Vị thành niên

 

Mental Health of Secondary Students in Hanoi and the Need for School Counseling

Đặng Hoàng Minh,Ph.D, College of Education, VNUHN

Hoàng Cẩm Tú, M.D,Ph.D, CPEMC, Hanoi

 

Survey on mental health of 1727 secondary students in Hanoi and Thuong Tin, using Youth Self-Report for 11-18 year old and Teacher’s Form Report 1/4 students have mental health problems among which 50% shows disorders on Internalizing such as Anxiety/Depression, Somatic Complaints and Externalizing such as Agressive Behavior, Delinquent Behavior. There are many factors may affect the students’ mental health including family environment, physical trauma, psychological trauma but stress life events was the most frequent.

We set up the intervention trial in school, involving teachers, psychologists and pediatrics. Training for teachers on developmental psychology, counseling skills, problem-solving skills was carried out. After intervention, the score of YSR and TRF in 1/3 children having problems reduced.

Bình luận

Tin tức mới