Tổng quan hệ thống và phân tích gộp về hơn 50 ảnh hưởng lâu dài do COVID-19

Ảnh hưởng về sức khỏe tâm thần sau nhiễm COVID-19 nhìn từ ca lâm sàng điều trị nội trú
Hoạt động chào mừng ngày Quốc tế Người cao tuổi, Ngày Giải phóng Thủ đô và Ngày Sức khỏe Tâm thần thế giới tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội
Sức khỏe tâm thần - Tác động lớn từ đại dịch
Bệnh viện Tâm thần Hà Nội tổ chức hoạt động dành cho người bệnh nhân ngày Sức khỏe Tâm thần Thế giới 10/10/2121 với chủ đề: “Chăm sóc sức khỏe toàn dân: Hãy biến điều đó thành hiện thực”
Thông báo về việc sử dụng ứng dụng Vietnam Health Declaration để khai báo y tế điện tử và thực hiện Check-in, Check-out khi ra-vào Bệnh viện Tâm thần Hà Nội

          Tổng quan hệ thống và phân tích gộp nhằm đánh giá sự ảnh hưởng lâu dài của COVID-19 trên sức khỏe người bệnh ở 18.251 bài báo khoa học đã được đăng tải. Trong đó có 21 phân tích tổng hợp đã được thực hiện trên 47.910 bệnh nhân độ tuổi từ 17 đến 87 tuổi, thời gian kéo dài sau nhiễm covid từ 14 đến 110 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 55 ảnh hưởng kéo dài liên quan đến COVID-19, những biểu hiện này  gặp ở 80% người bệnh sau nhiễm COVID 19. Các triệu chứng phổ biến nhất là mệt mỏi (58%), nhức đầu (44%), rối loạn chú ý (27%), rụng tóc (25%) và khó thở (24%). Các nhóm chăm sóc đa chuyên môn là  rất quan trọng trong việc phát triển các biện pháp phòng ngừa, phục hồi chức năng và chiến lược quản lý các rối loạn kéo dài sau COVID-19.

          Hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng có coronavirus (SARS-CoV-2) được phát hiện ở Trung Quốc vào tháng 12 năm 2019. Kể từ đó, đã có hơn 175 triệu người trên thế giới đã bị nhiễm sau mỗi năm, và hơn 3,8 triệu người đã chết vì bệnh coronavirus 2019 (COVID-19). Mặc dù những nỗ lực chưa từng có từ các nhà khoa học và cộng đồng y tế về hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và ngăn ngừa COVID-19 dành cho các cá nhân. Tuy nhiên các tác động lâu dài sau giai đoạn cấp tính của bệnh vẫn chưa chưa hoàn toàn sáng tỏ.

          Hiện nay có nhiều thuật ngữ  liên quan đã gây nhầm lẫn và chưa được tiêu chuẩn hóa. Các tác giả khác nhau đã sử dụng một số thuật ngữ để mô tả các triệu chứng kéo dài sau khi bị bệnh COVID-19, chẳng hạn như  “COVID-19 kéo dài- Long COVID-19”, “COVID-19 sau cấp tính- post-acute COVID-19”, “Các triệu chứng COVID-19 dai dẳng- Persistent COVID-19 symptoms”, “COVID-19 mãn tính- chronic COVID-19”, “Biểu hiện sau COVID-19- Post- COVID-19 manifestations”,“ nhiễm COVID-19 lâu dài- long-term COVID-19 effects ”,“ hội chứng sau COVID-19- post COVID-19 syndrome”, “COVID-19 đang diễn ra - ongoing COVID-19”, “Di chứng lâu dài- long-term sequelae ”, hoặc“ chứng bệnh lâu dài - long-hauleurs” là từ đồng nghĩa. Gần đây nhất, thuật ngữ “Di chứng sau cấp tính của nhiễm trùng SARS-CoV-2” (PASC- post-acute sequelae of SARS-CoV-2 infection), “COVID-19 kéo dài- long COVID-19” và COVID-19 sau cấp tính- post-acute COVID-19”, đã được sử dụng.

          Kết quả nghiên cứu cho thấy có 05 triệu chứng phổ biến. thường gặp nhất là mệt mỏi : 58% (95% CI 42-73), nhức đầu: 44% (95% CI 13-78), rối loạn chú ý: 27% ( 95% CI 19-36), rụng tóc:  25% (95% CI 17-34), khó thở: 24% (95% CI14-36) . Các triệu chứng khác liên quan đến bệnh phổi : ho, khó chịu ở ngực, giảm khả năng thông khí ở phổi, ngưng thở khi ngủ và bệnh xơ cứng phổi;  tim mạch: loạn nhịp tim, viêm cơ tim;  thần kinh : mất trí nhớ, trầm cảm, lo âu, rối loạn chú ý, rối loạn ám ảnh cưỡng chế và những biểu hiện khác là không nghiêm trọng như rụng tóc, ù tai và đổ mồ hôi ban đêm.  Một vài nghiên cứu khác báo cáo rằng mệt mỏi, chứng rụng tóc gặp phổ biến hơn ở nữ.

          Mệt mỏi là triệu chứng phổ biến nhất sau khi bị COVID-19. Nó có thể kéo dài đến sau 100 ngày kể từ khi có triệu chứng đầu tiên của COVID-19. Các tác giả quan sát thấy rằng sau một năm, hơn 2/3 số bệnh nhân được báo cáo có triệu chứng mệt mỏi rõ rệt về mặt lâm sàng. Các triệu chứng quan sát thấy ở bệnh nhân sau COVID-19  một phần giống với hội chứng mệt mỏi mãn tính (CFS), bao gồm sự hiện diện của mệt mỏi mất khả năng nghiêm trọng, đau, khuyết tật nhận thức, thần kinh, giấc ngủ bị ảnh hưởng, các triệu chứng rối loạn chức năng thần kinh tự trị và trầm trọng hơn các triệu chứng biểu hiện sự suy giảm nặng nề trong hoạt động thể chất và / hoặc nhận thức.

          Hội chứng mệt mỏi mạn tính (the chronic fatigue syndrome-CFS/ Myalgic encephalomyelitis-ME) là một tình trạng lâm sàng phức tạp và gây tranh cãi mà không có các yếu tố gây bệnh được thiết lập, 90% các trường hợp này không được chẩn đoán. Các nguyên nhân có thể gây ra hội chứng mệt mỏi mạn tính bao gồm vi rút, rối loạn chức năng miễn dịch, rối loạn chức năng nội tiết-chuyển hóa và các yếu tố tâm thần - thần kinh. Các tác nhân lây nhiễm có liên quan đến hội chứng này là virus Epstein-Barr, cytomegalovirus, enterovirus và herpesvirus. Các tác giả đưa ra giả thuyết  cho  rằng SARS-CoV-2 có thể được thêm vào danh sách các tác nhân vi rút gây ra hội chứng này.

          Một số triệu chứng tâm thần- thần kinh là: đau đầu (44%), rối loạn chú ý (27%), và rối loạn giấc ngủ (21%), mất nhớ (16%), trầm cảm (12%), lo âu (13%), hiếm gặp là: rối loạn stress sau sang chấn (1%), hội chứng Paranoid (0,3%). Các triệu chứng khác đã được báo cáo tuy nhiên không được đưa vào các bản chính thức, bao gồm các triệu chứng sương mù não và bệnh thần kinh. Căn nguyên của các triệu chứng tâm thần kinh ở bệnh nhân COVID-19 rất phức tạp và đa yếu tố. Chúng có thể liên quan đến sự lây lan trực tiếp của nhiễm trùng, bệnh mạch máu não (bao gồm cả tăng đông máu).

          Tổn thương mô qua trung gian miễn dịch trong COVID-19 liên quan đến các phản ứng tế bào và dịch thể, nhưng khả năng miễn dịch đối với SARS-CoV-2 và khả năng bảo vệ chống lại sự tái nhiễm hoặc sự thanh thải của vi-rút trong máu vẫn chưa được biết rõ. Ngoài ra, lý do tại sao một số bệnh nhân gặp phải các triệu chứng lâu dài từ COVID-19 là không chắc chắn. Điều này có thể được giải thích một phần là do các yếu tố do vật chủ kiểm soát dẫn đến kết quả của việc nhiễm virus, bao gồm tính nhạy cảm về mặt di truyền, tuổi của vật chủ khi bị nhiễm, liều lượng và đường lây nhiễm, cảm ứng các tế bào và protein chống viêm, sự hiện diện của các bệnh nhiễm trùng đồng thời, tiếp xúc trong quá khứ với các tác nhân phản ứng chéo, v.v. Liệu SARS-CoV-2 có thể gây tổn thương mô đáng kể dẫn đến dạng bệnh mãn tính như các tổn thương mãn tính trong thời gian dưỡng bệnh được quan sát thấy ở các loại vi rút khác như vi rút gây ung thư miễn dịch ở người (HIV), viêm gan không Siêu vi C (HCV), siêu vi viêm gan B (HBV), và một số herpesvirus vẫn chưa được biết đến.

          Các triệu chứng không được đề cập trong bất kỳ báo cáo nào mà chúng tôi đã nghiên cứu bao gồm: Giảm trọng lượng cơ thể đột ngột, đau tai, các vấn đề về mắt, hắt hơi, lạnh mũi, cảm giác nóng trong khí quản, chóng mặt, tim đập nhanh, đau/ cảm giác nóng trong phổi, đau giữa hai bả vai, hội chứng Sicca, chóng mặt, đau nhức cơ thể và lú lẫn.

          Hạn chế của tổng quan hệ thống và phân tích gộp này bao gồm kích thước mẫu nhỏ đối với một số kết quả nên việc khái quát hóa các kết quả này cho dân số chung trở nên khó khăn. Sự thay đổi trong nhận định của một số kết quả, điểm đánh giá chưa thương đồng, một số nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi tự báo cáo có thể dẫn đến sai lệch báo cáo. Ngoài ra, các nghiên cứu chưa đồng nhất về thời gian theo dõi đối tượng bệnh nhân có cả người bệnh COVID-19 vừa và nặng. Một hạn chế khác do COVID-19 là một căn bệnh mới, nên không thể xác định được những đợt lây nhiễm này sẽ tồn tại trong bao lâu. Để giảm tính không đồng nhất và hiểu rõ hơn về sự lây nhiễm lâu dài của COVID-19, cần có các nghiên cứu để phân tầng theo độ tuổi, các bệnh đi kèm trước đó, mức độ nghiêm trọng của COVID-19 (Bao gồm cả không có triệu chứng) và thời gian của mỗi triệu chứng. Từ đó xác định liệu những lần lây nhiễm lâu dài sau này có làm biến chứng các bệnh trước đó hoặc tiếp tục COVID-19 hay không, nên có các nghiên cứu thuần tập tiến cứu.

          Để có được các phân tích tổng hợp chính xác hơn, nhu cầu cấp thiết là phải có định dạng tiêu chuẩn về các ảnh hưởng lâu dài của COVID-19. Hiện tại, các triệu chứng sau COVID-19 phát triển trong thời gian hoặc muộn hơn COVID-19 sẽ được loại bỏ nếu chúng tiếp tục trong ≥ 12 tuần (“COVID-19 kéo dài”) và không được giải thích bằng chẩn đoán thay thế. Cần phải chuẩn hóa các biện pháp sinh học như dấu máu ngoại vi về chức năng di truyền, nhiễm trùng, miễn dịch và chuyển hóa để so sánh các nghiên cứu. Bên cạnh việc nghiên cứu các triệu chứng và đặc điểm được xác định trước, nên đưa vào một câu hỏi mở. Cần có thêm thông tin về các nghiên cứu tiến cứu để đánh giá tốt hơn diễn biến tự nhiên của nhiễm COVID-19 và xác định hội chứng kéo dài COVID-19. Từ quan điểm lâm sàng, các bác sĩ nên nhận thức được các triệu chứng, dấu hiệu và dấu ấn sinh học hiện diện ở những bệnh nhân đã bị nhiễm COVID-19 trước đó để kịp thời đánh giá, xác định và ngăn chặn sự tiến triển lâu dài của COVID-19, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh mãn tính, giúp tái lập tình trạng sức khỏe trước COVID-19. Việc quản lý các ảnh hưởng này đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc hơn và can thiệp liên ngành năng động, cá nhân hóa trong điều trị với nhiều chuyên khoa khác nhau, kết hợp liệu pháp nhận thức hành vi.

          Nguồn:

         Sandra Lopez‑Leon; Talia Wegman‑Ostrosky; Carol Perelman;  Rosalinda Sepulveda; Paulina A. Rebolledo; Angelica Cuapio;  Sonia Villapol (2021) “More than 50 long‑term effects of COVID‑19: a systematic review and meta‑analysis”, Scientifc Reports-2021, p 16111:16144.

 

Bác sỹ Đỗ Văn Thắng- Khoa điều trị người bệnh nữ cấp và bán cấp

Bệnh viện Tâm thần Hà Nội