Logo

Vai trò của máy cộng hưởng từ

  05/11/2016

Chụp cộng hưởng từ hay MRI (Magnetic Resonance Imaging) là một kỹ thuật chẩn đoán y khoa tạo ra hình ảnh giải phẫu của cơ thể nhờ sử dụng từ trường và sóng radio. Phương pháp này không sử dụng tia X và an toàn cho bệnh nhân. Máy chụp cộng hưởng từ là một thiết bị nhạy cảm và đa năng giúp ta thấy hình ảnh các lớp cắt của các bộ phận cơ thể từ nhiều giác độ trong khoảng một thời gian ngắn.

Chụp cộng hưởng từ là một kỹ thuật nhanh, gọn không gây ảnh hưởng phụ, là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại, hiệu quả và phổ biến trên thế giới. Ngày nay, MRI được sử dụng để kiểm tra gần như mọi cơ quan trong cơ thể. Kỹ thuật này đặc biệt có giá trị trong việc chụp ảnh chi tiết não hoặc dây cột sống. Kể từ khi MRI mang lại những hình ảnh 3 chiều, bác sĩ có thể nắm được thông tin về địa điểm thương tổn. Những thông tin như vậy rất có giá trị trước khi phẫu thuật chẳng hạn như tiểu phẫu não.

Nguyên lý cộng hưởng từ hạt nhân được Felix Block và Edward Puroel phát hiện vào năm 1946, cộng hưởng từ được ứng dụng rộng rãi từ năm 1950. Năm 1952, 2 nhà vật lý Felix Block và Edward Puroell được tra giải Nobel Vật lý nhờ sự phát hiện và ứng dụng cộng hưởng từ. Năm 1980, chiếc máy cộng hưởng từ đầu tiên trên thế giới được đưa vào hoạt động để tạo ảnh cơ thể người. Năm 1987, MRI được ứng dụng trong chẩn đoán các bệnh lý tim mạch bằng kỹ thuật cardiac MRI. Năm 1993, ứng dụng MRI để chẩn đoán các bệnh lý não thần kinh. Ngày nay, kỹ thuật tạo ảnh cộng hưởng từ (MRI) đã trở thành phổ biến trong y học chẩn đoán hình ảnh trên thế giới cũng như tại các bệnh viện lớn của Việt nam.

 

MỘT SỐ HÌNH ẢNH BỆNH LÝ TRÊN CỘNG HƯỞNG TỪ

1. U não:

Các u não lành tính hoặc ác tích, u ở trong não hoặc ngoài não đều nhìn thấy rõ trên ảnh cộng hưởng từ. Trong nhiều trường hợp u não trên ảnh cắt lớp vi tính và trên ảnh cộng hưởng từ là như nhau. Trên ảnh cộng hưởng từ có những ưu điểm sau:

+ Phù quanh u trên ảnh cộng hưởng từ nhìn rõ hơn ảnh cắt lớp vi tính.

+ Trên ảnh cộng hưởng từ phát hiện những u có tỷ trọng thấp hơn đối với các tổ chức não, mà trên ảnh chụp cắt lớp vi tính không phát hiện được.

2. Tràn dịch não (hydrocephalus):

Hệ thống não thất bên và não thất 4 nhìn rõ trên phim cộng hưởng từ và cắt lớp vi tính, nhưng cống Sylvius chỉ nhìn thấy trên ảnh cộng hưởng từ.

3. U tủy sống:

+ Trên hình ảnh cộng hưởng từ bình thường không nhìn thấy vỏ xương cột sống (phần xương đặc) và bộ phận dây chằng cột sống.

- Trên hình ảnh T1 : tủy sống, đĩa điệm và tủy xương của thân cột sống có cùng cường độ tín hiệu, nhưng dịch não tủy có cường độ tín hiệu thấp nên trên hình ảnh cộng hưởng từ dịch não tủy có biểu hiện tối, do đó giúp người ta nhìn rõ giới hạn của tủy.

- Trên hình T2: tín hiệu sáng nhất là dịch não tủy. Tủy và thân đốt sống giảm cường độ tín hiệu (các hình ảnh của Tngược lại với T1)

+ Ở người trẻ, nhân nhầy đĩa đệm và lớp trong của vòng sợi đĩa đệm có đặc trưng là cường độ tín hiệu cao; cường độ tín hiệu đó giảm cùng với tuổi và giảm khi có sự thoái hóa ở đĩa đệm.

+ Hình ảnh u tủy sống:

- Đối với u sọ - tủy sống: trên ảnh cắt lớp vi tính nhìn rất kém, vì xương cho hình ảnh giả  và khó xác định u có cấu trúc đồng tỉ trọng hoặc giảm tỉ trọng. Nhưng trên ảnh cộng hưởng từ thì khắc phục được những thiếu sót trên.

- Trên hình ảnh Tvà T:ở các  đoạn khác nhau của tủy đặc biệt có cùng cường độ hoặc giảm cường độ ở Tvà tăng cường độ ở T.

- U màng tủy (meningioma): phát hiện tương đối rõ trên hình ảnh T, cho tín hiệu có cùng cường độ so với cấu trúc của thân não. Ở Tu màng tủy có cường độ tính hiệu thấp, nhìn thấy rõ trên nền của tăng cườgn độ tín hiệu DNT.

- U nội tủy (ependymoma): ở u vùng nội tủy, chiều dày của tủy đôi khi tới 20 – 22 mm (bình thường lớn nhất là đoạn tủy cổ, kích thước tối đa chỉ là 8 mm), trong một số trường hợp nhìn thấy rìa u lồi lõm và không thuần khiết.

- Chẩn đoán u nội tủy thì hình ảnh cộng hưởng từ cho thấy rõ hơn tủy. Điều này giúp cho việc đưa ra chiến thuật điều trị thích hợp.

+ U dưới màng cứng ngoài tủy: trên ảnh cộng hưởng từ cho biết rõ vị trí u, kích thước của u và thậm chí cho thấy cả ổ nhuyễn tủy (nếu có) do u chèn ép vào động mạch nuôi tủy.

+ U rễ thần kinh: trên hình ảnh Tthấy u có cùng cường độ tín hiệu hoặc tăng cường độ tín hiệu, nhưng không nhiều so với tủy. U có đường viền rõ và cấu trúc thuần nhất.

4. Rối loạn tuần hoàn não:

MRI là một kỹ thuật hoàn hảo để chẩn đoán chảy máu nội sọ hoặc tai biến mạch máu não trong giai đoạn tối cấp tính. Cả CT và MRI đều có thể tiến hành ngay trong 6 giờ đầu sau khi bị bệnh.

CT là kỹ thuật dễ tiến hành hơn và nhanh hơn so với MRI và là biện pháp đặc hiệu để chẩn đoán sớm chảy máu nội sọ ngay trong giai đoạn cấp tính; mặt khác MRI lại nhạy cảm hơn với trường hợp tai biến mạch máu não nhỏ, tiến triển hoặc tai biến ở hố sọ sau.

Với hình ảnh tương phản, những bất thường sẽ nổi bật trên MRI, hơn nữa có thể xác định sự tiến triển của ổ nhồi máu từ cấp tính thành mạn tính bằng cách nhìn trước hết là mạch máu, sau đó đến tổ chức não và cuối cùng là tổ chức đệm.

5. Rối loạn mất myelin:

Các rối loạn trầm cảm, hưng phấn và vô cảm là ba triệu chứng rối loạn tâm thần nổi bật phối hợp với xơ cứng rải rác (multiple sclerosis-MS). Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ của rối  loạn trầm cảm trong MS thường là > 20%, trong một số báo cáo, tỷ lệ này là hơn 50%.

Tỷ lệ của rối loạn hưng cảm và vô cảm trong MS chưa được xác định, nhưng các triệu chứng này hay gặp trong lâm sàng. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực gặp tỷ lệ cao trong bệnh nhân MS trong nhân dân (gấp gần 2 lần). Rõ ràng, tổn thương thùy thái dương trái trong MS có liên quan chặt chẽ với rối loạn hưng cảm.

Đến nay, vẫn chưa có biện pháp nào đủ tin cậy để chẩn đoán MS. Tuy nhiên MRI là phương pháp tốt nhất để tìm hiểu đặc điểm MS ở vỏ não và tủy sống. Hơn nữa, MRI là khám xét cận lâm sàng tốt nhất nhằm xác định MS. MRI có thể xác định độ lớn và vị trí tổn thương, nghiên cứu các tổn thương mới và đánh giá tiến triển của bệnh. Thường là nhìn thấy sự tương phản rõ ràng xung quanh ổ tổn thương cấp tính hoặc ổ tổn thương mới trên kỹ thuật Thoặc sự đáp ứng với điều trị.

Paty và CS công bố các tiêu chuẩn sử dụng cho chẩn đoán MS trên MRI áp dụng trong lâm sàng. Các tiêu chuẩn này bao gồm 4 tổn thương hoặc hơn, các chất trắng được nhìn thấy trên Thoặc có  3 tổn thương nếu một trong số đó nằm cạnh não thất.

Do đặc điểm của MS trên MRI và do độ nhậy trong việc xác định mất myelin nên MRI là công cụ cận lâm sàng quan trọng bổ sung đầy đủ các tiêu chuẩn của Posner để chẩn đoán và phân loại bệnh là có thể bị MS hoặc chẩn đoán xác định chắc chắn bị MS.

Các liệu pháp điều trị bằng thuốc mới áp dụng trong lâm sàng đặc biệt là interferon (betaseron) khi dùng MRI sẽ thấy biểu đồ tiến triển thuận lợi, trên màn hình kích thước của tổn thương thu hẹp do đáp ứng với điều trị. Do vậy, giúp người ta hiểu được lịch sử bệnh lý và tự nhiên của MS. Trong những năm tới nghiên cứu đặc trưng thay đổi hóa học bằng chụp phổ cộng hưởng từ (MRS: magnetic resonance spectrocopy) có thể giúp tăng độ nhậy của chẩn đoán và có thể giúp người ta quan sát tiến triển của bệnh MS và sự đáp ứng với các liệu pháp điều trị.

6. Bệnh nhiễm khuẩn:

Nhiều loại bệnh nhiễm khuẩn có thể là nguyên nhân gây ra các triệu chứng rối loạn tâm thần, bao gồm vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng, virus và virus chậm hoặc prion.

Mặc dù giang mai thần kinh đã được y văn nói đến nhiều, nhưng nhiễm HIV ở hệ TKTW ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong lâm sàng. Biểu hiện đầu tiên là rối loạn trầm cảm, một số ít trường hợp có rối loạn tâm thần, gặp trong đa số các trường hợp có HIV dương tính, có tới hơn 20% các trường hợp có đầy đủ các tiêu chuẩn của rối loạn trầm cảm chủ yếu.

Ở giai đoạn muộn tỷ lệ rối loạn trầm cảm tăng cao hơn do tăng các yếu tố thuận lợi cho rối loạn trầm cảm như tăng kích thích các vùng dưới vỏ và hệ limbic. Những bệnh nhân có miễn dịch, CT và MRI rất hữu ích giúp cho chẩn đoán sớm nhiễm khuẩn.

Một trong 2 xét nghiệm này, có thể được sử dụng ngay khi mới có thay đổi trạng thái rối loạn tâm thần. MRI thường được sử dụng trong bệnh nhân nhiễm HIV để nghiên cứu các thay đổi tổn thương chất trắng xảy ra trong các trường hợp viêm não cấp tính, tiên phát do HIV.

Mặc dù, không dễ áp dụng rộng rãi nhưng MRI có thể cùng với chụp cắt lớp phát điện tử dương (PET: positron tomography) để phát hiện sự tăng chuyển hóa và chụp cắt lớp với photon (SPECT: single-photon emission computed tomography) để phát hiện sự tăng tưới máu trong vỏ não, vùng dưới vỏ, thùy thái dương, các hạch nền, đồi thị; sự tăng chuyển hóa và tăng tưới máu ở các vùng của vỏ não.

Mặc dù chưa có triệu chứng lâm sàng, người ta đã thấy có sự thay đổi chất hóa học trong não trên MRS cũng giống như trong giai đoạn đầu có phản ứng huyết thanh dương tính HIV trước khi tiến hành AIDS.

Các vữa xơ bán cấp trong não ít gặp, ở bệnh nhân nhiễm khuẩn hệ thống TKTW, mỗi năm tại Mỹ gặp 200 trường hợp. Có thể ban đầu biểu hiện bằng rối loạn hành vi, có thể gặp ảo giác, sau đó tiến triển nhanh thành mất trí. CT có hình ảnh teo vỏ não và giãn rộng não thất. MRI có thể nhìn thấy rõ ràng các hạch nền. Chẩn đoán chức năng bằng PET và SPECT là giống nhau trong nhiễm HIV.

Creutzfeldt-Jakob hiếm gặp trong nhiễm khuẩn hệ TKTW. Các xét nghiệm thường không có gì bất thường mặc dù PET và SPECT có thể chỉ ra nhiều vùng giảm chuyển hóa và cấp máu.

Viêm não do herpes, có thể tạo ra tổn thương thần kinh cấp tính tiến triển ở thùy thái dương và tăng kích thước cấu trúc limbic, đó là nguyên nhân gây ra các triệu chứng rối loạn tâm thần. CT và MRI có thể cho thấy cấu trúc bất thường đặc trưng ở một hoặc 2 thùy thái dương cũng như phía dưới thùy trán. Trong biểu hiện lâm sàng cấp tính, các xét nghiệm này có thể là sự trợ giúp quan trọng để chẩn đoán sớm và có thể bắt đầu điều trị.

7. Chấn thương sọ não:

Chấn thương sọ não, đặc biệt là vết thương ở phía trước của thùy trán hoặc các vết thương đầu nặng chính là nguyên nhân gây biến đổi nhân cách, thường biểu hiện là mất ức chế.

Các triệu chứng rối loạn tâm thần có thể phát triển cấp tính và có thể có nhớ bịa, hoang tưởng không hệ thống, thường xuất hiện trong sảng và quên.

Các triệu chứng rối loạn ý thức có ý nghĩa đặc trưng trên bệnh nhân có tiền sử chấn thương sọ não và không phải bệnh tâm thần phân liệt, giúp người ta khẳng định chẩn đoán vết thương ở đầu.

Các triệu chứng rối loạn cảm xúc (đặc biệt là rối loạn trầm cảm) có thể xảy ra sau chấn thương phía sau thùy trán 2 bên và hạch nền thùy trán, chấn thương thùy thái dương bên phải và hệ limbic được đặc trưng bởi các triệu chứng rối loạn hưng cảm.

CT và MRI có thể xác định có chảy máu nội sọ hay không. CT nhìn chung hay được sử dụng trong chấn thương sọ não cấp do nhanh, hình ảnh chảy máu cấp tính và vỡ xương sọ rõ ràng và dễ thực hiện hơn so với MRI. Nhưng MRI chính xác hơn, trong lâm sàng chấn thương sọ não vừa và nhẹ thường hay được chỉ định làm MRI do có độ nhạy cao, đặc biệt với những vết thương nhỏ ở vùng chất trắng và những thay đổi bán cấp hoặc mạn tính do chảy máu nội sọ gây ra.

8. Rối loạn vận động:

+ Nhiều rối loạn vận động tiên phát có biểu hiện rối loạn loạn thần. Chúng thường phối hợp với các rối loạn tâm thần biệt định, bao gồm các chẩn đoán rối loạn cảm xúc, rối loạn ám ảnh, xung động và rối loạn lo âu cũng như thay đổi nhân cách khác:

+ Các xét nghiệm nghiên cứu bệnh sinh chưa thể tiến hành đầy đủ, nhưng ít nhất có thể biết được vị trí giải phẫu của tổn thương trong rối loạn vận động.

+ Hầu hết các rối loạn vận động có nguồn gốc từ các nhân thần kinh và theo lý thuyết thì các ý nghĩ ám ảnh, hành vi xung động và cảm xúc không bình thường xuất hiện trong rối loạn vận động.

+ Trong thực tế lâm sàng thần kinh, rối loạn vận động được phân loại thành tăng động hoặc giảm động. Rối loạn tăng động là múa giật và rối loạn trương lực cơ. Rối loạn giảm phối hợp vận động là bệnh Parkinson và biểu hiện lâm sàng là run, vận động chậm, mất tư thế tự nhiên, rối loạn nói, mất khả năng vận động có ý thức.

+ Rối loạn giảm động là biểu hiện các triệu chứng ngoại tháp khác nhau, nguyên nhân do viêm não, teo não và tổn thương, thoái hóa thần kinh do nhiều nguyên nhân khác nhau. MRI giúp cho thấy rõ vị trí tổn thương trong các rối loạn vận động.

9. Động kinh

+ Động kinh được phân loại theo lâm sàng và điện não cần phân biệt giữa động kinh cục bộ và động kinh toàn thể.

+ Sự phân biệt tiếp theo là mức độ của rối loạn ý thức, cơn đơn giản thì mất ý thức một phần, trong khi cơn phức tạp thì mất ý thức toàn bộ.

+ Nguyên nhân của động kinh chỉ tìm thấy ở ¼ số trường hợp động kinh cục bộ, hầu hết các trường hợp động kinh là động kinh cục bộ.

+ Các nguyên nhân bao gồm tổn thương cấu trúc não, mặc dù EEG tiếp tục đóng vai trò quan trọng và duy nhất để chẩn đoán động kinh, nhưng MRI giúp xác định bệnh sinh hoặc đánh giá loại tổn thương trong não.

10. Mất trí:

+ Các trường hợp nhẹ và vừa người ta quan sát được sự teo não tiến triển. Nhưng ít có mối liên quan của biểu hiện và mức độ teo não với mất trí loại Alzheimer.

+ Có tỷ lệ cao các bệnh nhân lớn tuổi có sự tăng chất trắng trên nghiên cứu T. Mặc dù thay đổi chất trắng liên quan đến các vi tổn thương thứ phát do vữa xơ các mao mạch. Nhưng người ta chỉ thấy có mối liên quan nghèo nàn với triệu chứng của mất trí cùng lúc ấy. MRI có vai trò chính trong đánh giá bệnh Alzheimer với các nguyên nhân khác nhau:

Ví dụ: chẩn đoán phân biệt với mất trí do vữa xơ mạch máu bằng cách sử dụng hình ảnh MRI, bởi vì người ta có thể nhìn thấy các ổ nhồi máu nhỏ rải rác.

Hình ảnh của hồi hải mã cũng thấy rõ trên MRI, qua đó thấy rõ các bất thường về hình dáng và kích thước.

+ MRI đánh giá mức độ chuyển hóa không bình thường ở thùy trán và thùy thái dương của bệnh nhân.

+ Nồng độ N-acetyl và các chất dẫn truyền thần kinh giảm ở thùy trán và thùy thái dương ở bệnh nhân Alzheimer so với người bình thường.

+ Kết hợp các bất thường của não và hồi hải mã với MRI sẽ có các số liệu cho phép chẩn đoán tin cậy hơn. MRI là kỹ thuật bổ sung cho phép đánh giá mất trí loại Alzheimer./.

Bình luận

Tin tức mới